TỰ HOÀN THIỆN

Vận động là sự tự thân vận động cho nên dừng chân là trở thành lạc hậu

1.CẦN MẪN NHƯ ONG CHƯA ĐỦ

Hầu như ai trong chúng ta cũng từng thấy con ong bay đâm vào cửa kính trong suốt để thoát ra ngoài trời. Trình độ của chúng ta với con ong dù là chênh nhau đến mức không thể so sánh nhưng trong khi cắm cúi để làm các công việc của mình, nếu không tỉnh táo ta sẽ bị sa vào hoàn cảnh không khác mấy so với con ong và tấm kính. Phải tìm ra một khoảnh khắc tĩnh trí để nhìn lại và đánh giá tất cả những gì chúng ta đang làm, và nhận định từ trên cao nhìn xuống bản thân ta, như là ta đang xem xét con ong và các công việc của nó.

Hans Moravec chuyên gia Viện Robot, Đại học Carnegie – Mỹ, cho rằng đến năm 2010, thế hệ robot vạn nặng kích cỡ con người đẩu tiên sẽ xuất hiện. Với 5 tỷ phép tính một giây, bộ não tương đương “thằn lằn” làm được hầu hết việc nhà. Thế hệ thứ hai là bộ não chuột với 100 tỷ phép tính một giây sẽ được huấn luyện để bước đầu thích nghi với môi trường. Với bộ não khỉ tính được 5000 tỷ phép tính một giây, robot thế hệ ba có khả năng mô hình hóa các yếu tố thể chất, văn hóa và tâm lý. Thế hệ thứ tư với 100.000 tỷ phép tính một giây sẽ có khả năng như con người khi biết trừu tượng hóa, khái quát hóa. Chúng sẽ chuẩn đoán y khoa, quyết định đầu tư, thiết kế máy tính, phân tích động đất hay định vị các mỏ dầu!

Cũng theo Moravec vào năm 2050 robot sẽ thông minh hơn người. khi đó sẻ xuất hiện những công ty chỉ gồm toàn robot. Và con người chỉ phải nghĩ ra một hệ luật lệ thích hợp để quản lý. Cuối cùng, có thể loài người sẽ không còn làm việc theo cách ta vẫn thường hiểu. Trong cái thiên đường công nghệ đó, công việc duy nhất của nhân loại là theo đuổi các mục tiêu thẩm mỹ, xã hội hay thẩm định các sáng tạo của robot. Một giấc mơ thật đẹp.

Giấc mơ tuyệt đẹp trên vẫn chỉ là một giấc mơ do nhà toán học và logic học người Áo Kurt Godel tìm ra năm 1931. Định lý phát biểu rằng trong một hệ tiên đề hình thức như toán học hiện hành, luôn tồn tại những vấn đề mà ta không thể thừa nhận hay bác bỏ chỉ dựa trên những tiên đề đã cho. Nói cách khác, một hệ thống logic bất kỳ không thể tự hiểu bản thân, kiểu “dao sắc không gọt được chuôi”. Muốn hiểu hệ thống đó, cần một hệ tiên đề bao quát hơn; đến lượt mình, hệ tiên đề đó lại cần một hệ bao quát hơn nữa. Và quá trình cứ lặp lại như thế mãi.

Định lý Godel đặt ra nhưng giới hạn nguyên lý đối với toán học và là cú sốc lớn đối với cộng đồng khoa học, vì nó vưt bỏ không thương tiếc niềm tin tưởng rằng toán học là một hệ thống chặt chẽ và hoàn thiện chỉ dựa trên logic. Và như vậy, không chỉ trong nghệ thuật mà cả ngay trong toán học, trực giác cũng có vai trò không thể thay thế. Và trí tuệ nhân tạo không thể vượt qua trí tuệ tự nhiên của con người, vì theo thuyết tiến hóa của Darwin, bộ não là một hệ thống phức tạp nhất vũ trụ.

Không là đặc ân chỉ riêng cho giới văn nghệ sĩ, trực giác cũng vô cùng quan trọng đối với các nhà khoa học. Meldeleep mơ màng thấy bảng tuần hoàn, Einstein trực giác ra thuyết tương đối, Schrodinger ngộ được phương trình sóng của cơ học lượng tử khi đang thiền … chỉ là số ít thí dụ điển hình. Và ngay cả trong toán học, được xem là chặt chẽ và hoàn thiện nhất về mặt luận lý, trực giác cũng có tác dụng dẫn đường. Đó là vì, theo Hawking trong cuốn “ Lược sử thời gian từ big-bang tới lỗ đen”, toán học được xây dựng từ những tiên đề không thể chứng minh do các nhà khoa học trực giác ra, nhờ các lý do thẩm mỹ, siêu hình hay huyền bí. Hãy để cho trực giác nói.

Lương Khải Siêu ( 1873-1929) đã có một lời khuyên rất uyên bác cho mọi người: “ Mội ngày phải để ra ít khoảnh khắc đứng ngoài cuộc đời, nhìn lại cuộc đời. Sau mội tháng, mỗi năm, đều phải giành thời gian thích đáng để làm việc đó. Người thường thì luôn bị cuộc đời cuốn đi, không dừng lại được. Kẻ sĩ lại hay xa rời cuộc sống nhân quần, không hòa nhập đời thường. Duy chỉ có những người rất có văn hóa mới vừa luôn hòa nhập với đời thường, vừa có thể tách khỏi cuộc sống thường nhật vào bất cứ lúc nào để nhìn lại chính mình, nhìn lại cuộc đời”.

Về mặt xã hội, thực chất xã hội đang phải tự đào tạo cho xã hội. Về mặt cá nhân, khi tự mình xác định được hướng tự đào tạo chính mình thì mỗi chúng ta đã đặt được một chân của mình vào quá trình tự hoàn thiện một cách có ý thức. Trong quá trình tự đào tạo ấy, những nhận thức một thời từng là tiên tiến nhất vẫn có thể trở thành lạc hậu và ngược lại. Cững như bài hát hay nhất thời thượng nhất rồi cũng sẽ nhường chỗ cho những bài hát mới. Và có những bài ca không thể nào quên. Phương châm chiến lược “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều” vẫn còn giữ nguyên giá trị cho các doanh nhân Việt trong giai đoạn toàn cầu hóa.

Quan điểm “hãy ráng học và tìm một công việc an toàn, ổn định” được hình thành trong thời đại công nghiệp. Kiyosaki và Lechter cho rằng, điều này vẫn đúng với những người sinh ra trước năm 1930. Nhưng chúng ta sẽ không còn được sống trong thời đại đó nữa. Thời đại đang đổi thay. Trong thời đại thông tin ngày nay, thông điệp là tất cả chúng ta phải tự lực cánh sinh không ỷ lại vào ai khác ngoài chính mình. Phải trường thành lên trước tiên là trong vấn đề tiền bạc cá nhân của mình.

Sau một quá trình đào tạo và tự đào tạo, Havey nhận định rằng, quan trọng nhất là con người ta cần làm chủ được “khả năng thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác…”, và còn có những quan niệm về chất lượng đo bằng “mức độ cải thiện năng lực, kỹ năng và chất lượng cuộc sống của người học”. Nói một cách khác, đó là sự phù hợp hay thích nghi ngày một tốt hơn trước nhu cầu biến đổi không ngừng của cuộc sống.

Để thành đạt, không thể chỉ lấy tuổi tác hay kinh nghiệm ra làm thước đo, mà còn phải lấy Nhẫn, Trí, Tâm và Thiện làm chuẩn. Biểu hiện quan trọng nhất của người giàu có và thành đạt là biết lo cho tương lai của mình và cho những người khác cùng làm với mình, tự hoạch định con đường phá trước chứ không còn dựa dẫm vào bất kỳ ai khác ngoài chính mình và đặc trưng là có năng lực tư duy hoàn toàn độc lập. Trong suy nghĩ của người thành đạt không có chuyên mơ mộng, sa đà vào ảo tường hão huyền mà chỉ hướng về thực tiễn. Bằng cách như thế, với tầm nhìn ngày càng xa, tư duy ngày càng mang nhiều tính chiến lược, bạn càng dễ dàng trở thành người thành đạt và giàu có.

Đây đồng thời cũng là khả năng tư nhìn nhận đánh giá và định hường cho các hoạt động của mỗi người trong chúng ta, đó là kết quả của hàng triệu năm tiến hóa và của hàng ngàn năm văn hiến, đã làm cho chúng ta trở nên có ưu thế đặc biệt so với muôn loài.

2.XỬ LÝ THÔNG TIN

2.1 Thông tin

Dữ liệu là việc, hiện tượng hay sự kiện nằm ngoài ngữ cảnh và không hoặc chưa biết sắp xếp chúng vào đâu trong mối tương quan với những việc, hiện tượng hay sự việc khác. Tập hợp dữ liệu chưa phải là thông tin. Dữ liệu sau khi được phân loại sắp xếp, dựa theo những mối quan hệ giữa những dữ liệu và những dữ liệu hay thông tin khác, thì dữ liệu mới là thông tin. Những dữ liệu mà ta nắm được gọi là tư liệu.

Không phải tới ngày nay ở thòi đại Internet bão hòa thông tin, mới xảy ra chuyện là những cái ta biết ít hơn những cái mà ta không biết. Thông tin xưa nay vốn nhiều, và giờ đây đã tới mức như là mưa thông tin. Cách ém tin hiện đại là trộn chung lẫn lộn vào chính cái sự thừa thông tin đó, và thật không dễ dàng chút nào cho mỗi chúng ta khi muốn thực hiện kiểm chứng những tin tức đã bị luộc lại của các hãng thông tấn.

Không phải là vật chất nhưng thông tin có giá trị sử dụng và có thể trao đổi mua bán được. Thông tin là hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt. Cho nên không phải tự nhiên mà Kiyosaki & Lechter có nhận định rằng: ”Ba trăm năm trước, ruộng đất là của cải. Vì vậy có ruông là có vàng. Ngày nay là thời đại thông tin. Ai có những thông tin đúng lúc nhất người đó sẽ giàu. Vấn đề là thông tin bay vòng quanh thế giới với tốc độ ánh sáng. Loại của cải này không bị ngăn chặn bởi các đường biên giời như đất đai và nhà máy. Nó thay đổi nhanh hơn và đột ngột hơn”.

Tập hợp của thông tin chưa phải là kiến thức.Thông tin được sắp xếp một cách có hệ thống thành một chỉnh thể dựa trên các mối liên hệ gữa chúng với nhau để có thể hiểu được mới là kiến thức. Kiến thức là của nhân loại. Cái phẩn kiến thức mà ta làm chủ được mời gọi là tri thức. Muốn lảm chủ kiến thức phải thêm kỹ năng, cũng như ly thuyết phải gắn thực hành, mới thành tri thức. Và không ngẫu nhiên John Naisbitt và Patricia Aburdense trong cuốn Megatrends 2000 đã từng cảnh báo rằng: “Chúng ta đang chết ngộp trong khối lượng thông tin nhưng lại thiếu thốn tri thức”.

Tri thức không phải là vật vô tri giống như đồng tiền. Tri thức cũng không trú ngụ trong sách vở, trong ngân hàng dữ liệu hay trong phần mềm máy tính. Những thứ ấy chỉ là vật chứa đựng thông tin mà thôi. Tri thức chỉ có được thông qua kỹ năng tư duy. Tri thức chỉ tồn tại trong con người, được tạo ra, sửa đổi và hoàn thiện bởi bộ óc của con người, được con người sử dụng và truyền đạt. Tập hợp thất nhiều tri thức chưa chắc đã là sáng suốt. Tri thức phải đạt một độ hoàn thiện nhất định mới là sáng suốt.

2.2 Nguyên lý

… không có gì là không liên quan đến cái khác, vấn đề là có nhận ra được hay không những mối liên quan ấy…

Cuộc cách mạng thông tin sắp tới không phải là cuộc cách mạng về công nghệ, máy móc, kỹ thuật, phần mềm hay tốc độ, ngay từ năm 1998 Drucker đã phát biểu, nó là cuộc cách mạng về các khái niệm.

Khi khám phá thế giới chúng ta phát biểu các nhận thức của mình ở dạng các nguyên lý, nguyên tắc, công thức… Cùng với sự phát triển các kiến thức mới xuất hiện thế là nhận thức cũ, có thể là đang ở vị trí khái quát cao, trở thành một trường hợp đặc biệt.

Cũng bởi vì thông tin được sắp xếp một cách có hệ thống mới là kiến thức, cho nên cùng một lúc có thể có nhiều cách sắp xếp thông tin khác nhau để trình bày cùng một kiến thức. Khi có nhiều cách trình bày như thế mỗi cách trình bày là một phần của chỉnh thể.

Một tình huống khác, để có thể hiểu một khái niệm tác giả dùng một ví dụ minh họa, sau đó người ta coi ngay cái ví dụ riêng biệt trong minh học đó là khái niệm. Rồi cùng với thời gian, xuất hiện những vị dụ khác chứng minh rằng ví dụ ban đầu chỉ là trường hợp đặc biệt mặc dù ngay từ đầu tác giả đã trình bày cái cách hiểu khái quát rồi.

Là nguyên lý thì phải khái quát, tức là khó trùng hợp hoàn toàn trong trường hợp cụ thể. Một ví dụ cụ thể không bao giờ có thể ứng dụng nguyên si vào trường hợp tương tự khác mà không bị khập khiễng. Không thể và không bao giờ có thể tìm cách liệt kê cho hết từng trường hợp cụ thể. Bởi vì liệt kê dù chu đáo đến đâu cũng vẫn thiếu mà lại thừa. Để ứng dụng cần khái quát hóa một loạt trường hợp cụ thể để rồi ứng dụng vào một trường hợp. Đó là sáng tạo. Mọi nơi mọi chỗ đều cần đến sáng tạo.

Trong thế giới phát triển rất nhanh ngày nay, ngay cả các chuẩn mực còn bị thay đổi. Càng ngày người ta càng hiểu được rõ hơn rằng môi trường ngày càng chứa những yếu tố không xác định biến động rất nhanh, do đó khó có thể dự đoán một cách chính xác được. Việc phải luôn thường xuyên đánh giá và kiểm định lại tri thức và giải pháp cũ, để cập nhật tri thức mới, giải pháp mới cho tình hình đã thay đổi là một đòi hỏi sống còn.

Thiếu thông tin thương mại dự báo là một bất lợi, nhưng thông tin sai lạc là một tai họa. Để tránh cái việc phải cập nhật quá nhiều thông tin thì nên nắm khái quát. Khái quát dễ hơn cụ thể. Khái quát càng cao càng có năng lực tiên đoán. Hiểu nguyên lý càng sâu thì lại dễ hơn khi triển khai. Dự báo chưa phải là tiên đoán. Dự báo dựa trên các số liệu khoa học, mà số liệu ở một thời điểm xác định thường là không đầy đủ. Dự báo là công việc của nhà khoa học nhưng doanh nhân muốn thành đạt phải biết tiên đoán dựa vào khoa học lẫn trực giác.

Trong cuộc sống có những việc thấy người ta làm thì dễ nhưng ứng dụng vào mình cho có hiệu quả mới khó bởi vì họ không giống ta hoàn toàn nhưng nguyên lý vẫn là một. Muốn làm được như người ta thì phải nắm thực tiễn, phải hiểu nhu cầu thực sự của cuộc sống. Cho nên cái sự học để biết thì dễ nhưng để nắm cho được cái bản chất để làm thì không dễ, nhất là để áp dụng trong một môi trường mới với một luật chơi thay đổi.

Mặt khác, cụ thể thường đơn giản và dễ hơn nhiều so với lý thuyết. Trong việc đưa con tôm nói riêng và thủy sản nói chung nay đã thành thế mạnh của nông dân đồng bằng sông Cửu Long, những sáng kiến của nông dân luôn đi trước khoa học kỹ thuật. Nông dân đi trước các nhà khoa học không chỉ một bước mà rất nhiều bước. Khoa học luôn đi theo sau để đúc kết những thành công trong thực tiễn sản xuất, khái quát thành các nguyên lý để nhân rộng ra cho những nông dân khác cùng làm theo.

“Học và làm nghề gì cũng cần phải được mài dũa bằng thực hành và cọ sát qua thực tế. Theo Fulbright, “nghề dạy nghề” là rất cần thiết, nhưng nên có một nền tảng lý luận sâu sắc thì bạn mới có thể tiến xa hơn, sáng tạo hơn, đủ sức cạnh tranh và không bao giờ được đào thải”.

Và cuộc sống luôn thế. Các doanh nhân luôn đi trước và đặt vấn đề cho các trường đại học cũng như các viện nghiên cứu. Dân luôn “sáng tạo” và tìm ra các “lỗ hổng” cũng như đặt nhiều vấn đề của cuộc sống và đi rất xa trước các nhà làm luật.

2.3 Tư duy sáng suốt

“Thuở khai thiên trên trái đất không có đường, người ta đi mà thành đường”. Nguyên lý cũng giống như những con đường khám phá quy luật. Đi đâu mà lại không cần đường, bởi vì cách nhanh nhất là đi theo con đường đã mở.

Nhưng đường không phải là toàn bộ mặt đất, cho nên vẫn có thể và cần phải mở những con đường mới để tới những chỗ chưa có người tới. Cũng có thể, nhưng con đường mới mở là những con đường thẳng, ngắn hơn thay cho những con đường cũ đi vòng. Cũng có thể, nhưng con đường mới mở là những con đường dễ đi hơn và mau tới đích hơn cho dù là đi đường vòng.

Nhìn từ một góc độ khác, biết nhiều chữ, nói có lý chưa chắc đã là đúng. Đúng chưa chắc đã kín mọi nhẽ. Ngược lại, chưa giải thích được hiện tượng không có nghĩa là hiện tượng đó không có thực. Cho nên, tư duy sáng suốt là phải hiểu và định hướng tìm hiểu những nhân tố mới dù chỉ là với lượng thông tin luôn bị nhiễu hoặc thiếu hụt. Nói cho rõ hơn, tư duy sáng suốt còn có nghĩa là biết cách xử lý lượng thông tin vô cùng lớn một cách không giới hạn.

Nguyên lý là một kiểu mô phỏng thông qua mô hình hóa hay cũng có thể gọi là đơn giản hóa hiện thực để có thể nhận thức quy luật. Nhưng nguyên lý chưa phải là quy luật. Cho nên, khi tự hạn chế mình vào các nguyên lý, nguyên tắc, công thức… có sẵn, cũng giống như chỉ biết mỗi một cách là đi theo những con đường mòn đã quen biết sẵn thì có nghĩa là đang tự mình trói buộc mình.

Nguyên lý là nhận thức phản ánh quy luật, nguyên lý chưa phải là quy luật.

Dù rằng lý luận xuất phát từ thực tiễn, nhưng trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, lý luận phải đi trước, rọi đường, soi sáng, tiên đoán, lý giải các vấn đề của thực tiễn. Không để các vấn đề về trình độ nhận thức cản trở sức sản xuất, làm giảm tài nguyên sáng tạo bằng các định kiến lạc hậu.

Thế kỳ 21 là thế kỷ của tri thức, là giai đoạn phát triển mà tiền bạc hay của cải không còn là điều kiện tiên quyết cho sự thành đạt như trước nữa. Không có bản quyền nào có thể giúp bảo vệ mãi vị trí độc tôn trong kinh doanh. Trí tuệ sáng suốt sẽ mách bảo nhu cầu sáng suốt của thiên hạ, giúp bạn hành động trước người khác một bước, “tiên hạ thủ vi cường”, và nhờ đó bạn thành công.

Kiến thức ở đỉnh cao có thể giúp người ta trờ thành nhà thông thái nhưng kiến thức chưa phải là sức mạnh. Tri thức mới là sức mạnh. Do tri thức gồm cả kiến thức và kỹ năng nên tri thức mới giúp tạo ra của cải vật chất và chính nhờ kỹ năng mới có thể sáng tạo được.

Sáng suốt là trạng thái tư duy tiếp cận được với chân lý. Nhờ đó tư duy sáng suốt phản ánh được chính xác quy luật trong một hoàn cảnh đặc trưng của thực tiễn. Giống như một chiếc đài tốt vẫn dò trúng làn sóng dù là rất nhiều nhiễu, việc định hướng đúng và chính xác; xác định và khẳng định cho được chân lý trước những thông tin sôi động sắc màu của cuộc sống, đòi hỏi phải có năng lực tư duy sáng suốt.

Cho nên cổ nhân có câu: “Thấy được ánh nắng không phải mắt tinh. Nghe được sấm không phải tai thính. Thấy được cái không ai thấy, nghe được cái không ai nghe mới gọi là mắt tinh tai thính. Lý giải được cái chưa ai hiểu nổi mới gọi là sáng suốt”.

2.4 Sách vở và bài bản

“Tận tín thư bất như vô thư”

Khi biết một việc mới người ta sắp xếp nó theo những trật tự mình đã biết. Khi giải thích tức là dùng những cái, những khái niệm, đã biết để hiểu cái chưa nắm hoặc chưa biết. Cách làm như thế gọi là bài bản. Nhờ bài bản các vấn đề được hiểu một cách có hệ thống.

Có hai tình huống khó giải quyết có thể xảy ra khi thông tin mới không sắp xếp được vào chỗ nào trong kho tri thức vốn có của mình. Một là, không phân loại xếp hạng được thông tin mới. Hai là, thông tin mới gây đảo lộn hệ thống sắp xếp cũ.

Thông tuệ là trình độ của người luôn biết cách phân loại sắp xếp thông tin. Khi hệ thống cũ không chứa nổi thông tin mới thì người thông tuệ sẽ tạo dựng một hệ thống, có thể bao gồm các nguyên lý mới bao quát hơn, để thống nhất quản lý thông tin. Ngược lại, sở tri chướng là trình độ của người khư khư nắm cái cũ, không chịu đổi mới, không chấp nhận cái mới khi nó nghịch nghĩa với cái cũ, và không hiểu rằng cái mới dù sao cũng tồn tại dù ta có công nhận nó hay không, cũng giống như “trái đất vẫn quay” cho dù ta có biết hay không biết, công nhận hay không công nhận sự việc đó.

Sách vở theo một nghĩa nào đó là nhiều chữ. Nhiều chữ nhưng là chữ cũ, nhiều đến mức không còn chỗ cho cái mới. Nhiều chữ kiểu ấy không bằng ít chữ. Học vấn có thể cao nhưng vẫn không biết thích nghi với thế giới thay đổi mỗi ngày. Như vậy là tự biến mình thành giáo điều, trở thành nô lệ của kiến thức. Người đoạt giải Nobel năm 2002, nhà kinh tế Vernon L.Smith thuộc đại học Geogre Mason, Mỹ, nói: “Các bạn hãy tìm hiểu và tôn trọng luật lệ nghề nghiệp của mình, nhưng đừng tuân theo chúng”. Một cách diễn giải khác : “Tận tín thư bất như vô thư” – quá theo sách không bằng không có sách. Khi tin rằng khoa học giải thích được tất cả, khi ước muốn mọi chuyện đều có thể làm sáng tỏ bằng kiến thức khoa học thì đây chính là ảo tưởng của “Kỷ nguyên Ánh sáng”. Đó cũng lại là một hình thức của sở tri chướng. Ngược lại, khi biết chấp nhận cái mới một cách liên thông dù nó mâu thuẫn với cái cũ, biết chấp nhận cái mới cả khi cái mới đó dường như còn mâu thuẫn với “khoa học” thì đó mới là cách tư duy của thời đại kinh tế tri thức.

Có loại sách vở chỉ dùng kiến thức mới soi sáng mọi chuyện, không chấp nhận cái cũ. Loại nữa là chỉ dùng cái cũ chống cái mới. Nhìn chung hai thứ là một. Cái gọi là mới cũng là cũ. Vì cùng với thời gian cái gì mà không thành cũ. Cái cho là cũ vẫn sẽ thành mới khi được tái phát hiện dưới một góc độ khác.

Giống như người ta ăn thức ăn và tiêu hóa được thức ăn. Biết sách vở và tiêu hóa được sách vở và không trở thành sách vở đó mới là thông tuệ.

3.PHÁT TRIỂN

3.1 Dừng chân là trở thành lạc hậu

Điều bất biến duy nhất của thế giới này là nó luôn biến đổi. Kinh Dịch viết: “Dịch là bất dịch”. Karl Marx viết: “Vận động là quy luật của vật chất”. Hai cách viết để biểu thị cùng một ý: Phàm là tạo vật sinh ra không có gì là không biến đổi cả.

Tuy rằng ở dạng tiềm năng thì ai trong chúng ta cũng tự cảm nhận thấy là đều nắm được nguyên lý ở mức độ nào đó , nhưng sự thành thục bất cứ nguyên lý nào trong các nguyên lý cơ bản cũng lập tức tác động tốt đến sự thành đạt cá nhân trong xã hội.

Nhưng xã hội liên tục phát triển. Dừng chân tư nhiên trở thành lạc hâu. Cũng giống như sản phẫm mới chưa ra đời đã bắt đầu cũ. Để phát triển quan trọng nhất là phải sáng tạo. Nói cách khác, sáng tạo là để có được sự phát triển một cách hiện thực, rộng rãi, ổn định và bền vững.

Bởi vì ngay khi vừa mới ra đời là đã bắt đầu quá trình già cũ, nên dòng sản phẩm đòi hỏi phải được cải tiến liên tục. Tuổi thọ trung bình của một sản phẩm ngày càng ngắn. Có thể chỉ là một năm, có thể chỉ là một mùa. Các thống kê mới đây về mốt trang phục Hàn Quốc cho thấy, tuổi thọ trung bình của một model chỉ là 3 năm. Trong khi trước đây, khi quảng cáo và tiếp thị chưa tốt như ngày nay, có khi cả chục năm người ta vẫn thấy một sản phẩm vẫn nguyên không đổi.

Các thống kê cho thấy một người Mỹ trung bình đổi nghề 3 lần. Như vậy là cứ khoảng trên dưới 10 năm đổi nghề một lần. Một vận động viên đỉnh cao rất xuất sắc mới có thể duy trì đỉnh cao thành tích nhiều hơn 3 kỳ thế vận hội. Tương lai rồi ai cũng phải đổi nghề. Việc cần làm là đổi làm sao để có kế thừa, có thể phát huy , củng có thể là giảm bớt nhàm chán. Nếu 10 năm không có gì thay đổi tức là đã có bế tắc trong sáng tạo. Nếu không có gì mới sau 10 năm làm việc thì phải hiểu ngay là mình đang đứng tại chỗ, không phát triển. Mà dừng chân là trở thành lạc hậu.

Điều này không phải là một an ủi nếu như bạn không thể theo mãi một nghề. Và nếu như bạn bị bế tắc thì cũng là bình thường. Đó cũng bình thường như chính cuộc sống nếu có ai đó chê là bạn chỉ thấy cái hay cái dở đâu đó ở chỗ khác chứ trong chính lĩnh vực bạn giỏi nhất thì lại bị cạn kiệt sáng kiến. Chính cái lúc bạn ngủ, những sáng kiến có giá trị như mơ mới xuất hiện. Những cái hay nhất có được nhiều khi là trong lúc nghỉ ngơi, lúc đi chơi, lúc bị khủn hoảng chứ không chắc đã là trong lúc thành công vượt bậc. Thành công tức là đang thụ hưởng thành quả của quá khứ. Cây cối qua một mùa đông khi xuân đến có một sức bật đặc biệt. Tốc độ mọc khi đó có thể nhìn thấy được bằng mắt mỗi ngày. Bạn đừng ngạc nhiên khi ai đó, hoặc cũng có thể lả chính bạn, thành công rực rỡ nhưng lại không phải trong chuyên ngành được học tập đào tạo nghiêm chỉnh. Có rất nhiều người đã tái phát hiện ra chính mình như thế.

Phát triển có thể là những cải cách khi bao gồm những thay đổi về lượng. Phát triển có thể mang tính cách mạng khi bao gồm những thay đổi về chất. Muốn cạnh tranh thành công phải có những ưu thế vượt trội về chất so với đối thủ. Và ngược lại, muốn đuổi kịp đối thủ cạnh tranh cần tích lũy những tiến bộ về lượng đủ để xóa đi những khác biêt về chất.

3.2 Vòng xoắn đi lên.

Theo Marx, lượng đổi làm chất đổi. Những thay đổi về lượng diễn ra liên tục, nhưng sự thay đổi về chất không diễn ra liên tục và đồng thời. Những thay đổi về lượng phải đạt được giá trị nhất định gọi là giá trị tới hạn mới xảy ra việc lượng đổi thành chất. Người xưa dùng hình tượng vũ môn để chỉ cái giá trị tới hạn phải vượt qua. Cá chép muốn hóa rồng phải vượt qua vũ môn thì mới trở thành rồng được. Như vậy phải tích lũy kiến thức ở quy mô nhất định thì mới có thể biết cách làm việc. Học sinh, sinh viên phải học hết một chương trình xác định mới tốt nghiệp được. Thiếu một môn không quan trọng vẫn không được tốt nghiệp.

Mặt khác, sự khác nhau về lượng kiến thức của sinh viên một tháng trước và sau khi tốt nghiệp là rất nhỏ nhưng sự khác nhau về chất là căn bản. Cho nên, sự nỗ lực của các cá nhân trong những tháng cuối cùng trước khi ra trường mang tính quyết định để những kiến thức tích lũy trong nhiều năm học tập cuối cùng được biểu hiện.

Tương tự nhưng ở quy mô cao hơn, doanh nghiệp phải tích lũy kỹ thuật tới một ngưỡng nhất định thì mới có thể sản xuất một mặt hàng mới. Mặt hàng phải đạt được một trình độ nhất định thì mới được thị trường chấp nhận.

Sự phát triển trí tuệ của mỗi người trong chúng ta là một đường xoắn ốc liên tục đi lên. Bắt đầu là giai đoạn học tập. Khi kiến thức tích lũy đến một mức độ nhất định sẽ đổi thành tri thức. Tri thức cho phép sáng tạo và làm cho năng suất lao động của cá nhân tăng vượt bậc. Bước cuối cùng là bảo thủ khi mà chúng ta cứ làm theo thói quen để rồi chỉ biết sáng tạo theo cái kiểu cũ, và không vượt được qua chính mình nữa. Nhưng khi có một sự thay đổi mang tính hệ thống, hay là trong một môi trường mở hoặc biến đổi thì quá trình phát triển lại tiếp tục và có thể là không giới hạn nếu các nỗ lực tiếp tục ở dạng mở.

Phát triển có thể là: phát triển thể lực, phát triển trí tuệ, phát triển doanh nghiệp, phát triển một sản phẩm cụ thể, hay cũng có thể là số lượng vi khuẩn trong một giọt sữa. Trong một không gian xác định, trong một hệ kín, nhìn chung phát triển có dạng hình chữ S gồm 3 giai đoạn đó là: Giai đoạn trì trệ, giai đoạn lũy tiến và giai đoạn bão hòa.

Giai đoạn trì trệ của phát triển

Đối với một sản phẩm đây là giai đoạn bắt đầu chào hàng giới thiệu. Đối với con non đó là giai đoạn mới ra đời khi chưa trưởng thành, lúc này cần được bú mớm nuôi dưỡng. Đó là giai đoạn niên thiếu của một đời người. Đó giai đoạn bắt chước, rập khuôn, kế thừa không phê phán. Đó là giai đoạn lệ thuộc vào sự nuôi dưỡng giáo dục của cha mẹ. Đó là giai đoạn học tập để kế thừa tri thức của nhân loại. Nếu so sánh với sơ đồ tự hoàn thiện bản thân thì học tập tu dưỡng ứng với giai đoạn trì trệ đó là giai đoạn xã hội, gia đình phải ra chi phí bản thân người học chưa đóng góp được gì. Không ai nghi ngờ một chút nào về tầm quan trọng của học tập. Khổng Tử nói: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Học tập là để cống hiến cho gia đình, cho xã hội và quan trọng hơn cả là cho bản thân mình. Tuy nhiên không phải cứ học tập càng nhiều là càng tốt. Học tập là đang ở giai đoạn đầu tư ban đầu, là đặt mình ở vị trí thấp để cầu tiến. Học tập giống như đường băng để máy bay cất cánh. Sân bay hiện đại dùng để đón các máy bay lớn, tốc độ cao có đường băng dài hơn so với các đường băng kiểu cũ. Việc học tập của thế hệ trẻ ngày nay kéo dài và có chất lượng cao hơn rất nhiều so với thế hệ trước. Nhưng về bản chất học tập là giai đoạn trì trệ. Không thể kéo dài giai đoạn học tập lâu vô tận cũng giống như một chiếc máy bay cứ muốn chạy trên đường băng không chịu cất cánh bay lên. Như vậy, đến một lúc nào đó khi đã tích lũy đủ kiến thức thì phải biết chuyển sang giai đoạn vận động và sáng tạo.

Giai đoạn lũy tiến của phát triển

Đối với đời sống của một cá thể thì đây là giai đoạn trưởng thành, giai đoạn kể từ khi lập thân, giai đoạn phát triển độc lập, tạo lập cuộc sống riêng tư. Trong doanh nghiệp thì đây là giai đoạn kể từ khi thu bù chi, làm ăn bắt đầu có lời. Trong quá trình phát triển của trí tuệ thì đây là giai đoạn vận dụng và sáng tạo.

Bản thân vận dụng đã là sáng tạo. Vận dụng và sáng tạo là giai đoạn phát triển lũy tiến. Vận dụng và sáng tạo là sự vận động tự đưa mình lên vị trí tiên phong. Vận dụng và sáng tạo là sự thăng hoa của tri thức, là biết cách biến những viên gạch của kiến thức nền tảng thành những tòa nhà văn minh vật chất. Và cuối cùng, cũng như mọi sản phẩm của trí tuệ, vận dụng và sáng tạo sẽ được kiểm chứng tính đúng đắn của nó bằng thực tiễn.

Giai đoạn bão hòa của phát triển

Bữa tiệc nào rồi cũng đến lúc xong. Không có một loại hàng hóa nào cứ nguyên thế mà bán được mãi. Trong thời đại thông tin ngày nay, tuổi thọ của sản phẩm ngày càng ngắn. Đây là giai đoạn bão hòa thị hiếu người tiêu dùng. Còn một tên nữa để gọi giai đoạn này đó là giai đoạn suy thoái hay giai đoạn bảo thủ. Nhà sản xuất phải biết để liên tục tung ra các sản phẩm mới. Đối với cầu thủ bóng đá, phải biết lúc nào lên rút khỏi vị trí và chuyển sang nghề khác, thành huấn luyện viên chẳng hạn. Muốn cả doanh nghiệp không bị chuyển sang giai đoạn bão hòa cần liên tục đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm. Hoặc là cũng sản phẩm đó nhưng phải biết cách khai phá một thị trường mới.

Suy thoái chỉ xảy ra trong một hệ kín. Trong một hệ mở thì phát triển không có giai đoạn bão hòa. Trí tuệ trong một hệ kín khi phát triển đến tận cùng sẽ là giai đoạn bảo thủ. Nhưng khi phát triển trong hệ mở, trí tuệ sau giai đoạn sáng tạo sẽ chuyển sang giai đoạn sáng suốt. Sáng suốt có thể được hiểu như là “học, học nữa, học mãi”. Đến một trình độ nhất định của trí tuệ thì việc trau dồi trí tuệ sẽ phải là không ngơi nghỉ. Đó là sự khởi điểm cho đổi mới, là sự hưng thịnh ở tầng mức cao hơn trên cơ sở kế thừa truyền thống.

Phát triển là một đường xoắn ốc liên tục đi lên. Khi nhìn ngang từ bên ngoài vào sẽ thấy hình chiếu của phát triển là đường zíc zắc, đó là hình chữ S cách điệu. Trên những đoạn phát triển đi lên thuộc phía bên kia của xoắn ốc, nhìn trên hình chiếu sẽ cho thấy dường như là đổi chiều, đó là sự trở lại của các giá trị truyền thống và mỗi lần đổi chiều là một bước ngoặt hay còn gọi là điểm uốn chiến lược. Trong quá trình phát triển có 4 điểm uốn chiến lược chính: Thành, thịnh, suy, đổi. Tại vị trí đó diễn ra việc lượng đổi thành chất.

SƠ ĐỒ ĐƯỜNG TỰ HOÀN THIỆN

Đó là thời điểm mà công ty phải thay đổi lộ trình của mình, tự thích nghi với hoàn cảnh mới, nếu không nó sẽ đứng trước nguy cơ suy thoái. Andy Grove, TGĐ Intel, cho rằng: “Tại một điểm uốn chiến lược, phương thức hoạt động của công ty, bản thân cấu trúc và quan điểm kinh doanh đang chịu sự thay đổi. Nhưng điều trớ trêu là ở ngay tại điểm uốn đó chúng ta không thấy có sự xáo trộn nhiều. Điểm tinh vi này cũng giống như một mắt bão. Không có chút gió nào tại mắt bão nhưng khi mắt bão đi qua gió sẽ quất vào bạn ngay.

Diễn biến tương tự cũng xảy ra ngay giữa giai đoạn chuyển đổi từ một khuôn mẫu kinh doanh này sang khuôn mẫu kinh doanh khác. Điều mỉa mai là cho dù nhưng thay đồi này có thể đem đến thảm họa cho công việc kinh doanh thế mà chúng ta đều rất thường bị bỏ qua.”

Một cách tương tự, tốt nghiệp đại học cũng như việc được thăng chức không phải là kết thúc của một quá trình học tập hay phấn đấu, mà là khởi đầu cho một giai đoạn làm việc và học tập mới với hiệu năng cao hơn về chất so với trước. Tiếp tục duy trì công việc theo tốc độ như trước đây, hoặc là tích lũy kiến thức vẫn với nhịp điệu như thời còn đi học thì việc tiến bộ sẽ là không thể tưởng tượng được. Điều này cũng đúng với cả nhưng công ty chuyển đổi quy mô hoạt động từ nhỏ lên lớn, từ nội địa ra quốc tế. Ở địa vị mới, do chưa quen với luật chơi đã được thay đổi sẽ dễ bị bắt nạt hơn nhiều so với trước đây. Giống như “con cua vừa mới lột xong” yếu hơn và dễ bị “kẻ thù tự nhiên” tiêu diệt hơn so với con cua lúc chưa lột. Nhưng chính vào lúc này không gian mới cho sự phát triển lại rộng mở.

Con đường tự hoàn thiện của cá nhân cũng như vậy. Bắt đầu là giai đoạn học tập hay còn gọi là giai đoạn tích lũy. Sau lập thân là giai đoạn phát triển sáng tạo. Sau khi thành đạt nếu biết cách cập nhật và đổi mới tư duy thì sẽ là giai đoạn sáng suốt. Phải đạt nhẫn, trí, tâm, thiện ở một mức nhất định thì mới có thể nói đến lập thân. Từ lập thân đến thành đạt là cả một quãng đường sáng tạo dài cần phải phấn đấu.

3.3 Sạch nước cản

Cuộc sống cũng giống như một cuộc chơi lớn và muốn bắt đầu cuộc chơi thì phải thuộc luật chơi, tương tự như muốn chơi cờ thì phải sạch nước cản.

Khi bạn làm một việc vô ích, thì không chỉ đơn giản là một việc làm vô ích mà bạn đã bỏ qua cơ hội và không còn thời gian nữa để làm một việc hữu ích. Không chỉ có thế, cho dù bạn có làm một công việc cực kỳ tốt, vượt chuẩn bao nhiêu đi nữa khi mà người khác nều chỉ cần làm việc đạt chuẩn cũng đủ thì việc lảm tốt quá mức đó của bạn thực ra là có hại cho bạn. Lưu Dung đưa ra khái niệm “thời gian song hành”. Công việc quá mức cần thiết đã lấy đi thời gian và sức lực của bạn. Những công việc cần làm khác của bạn nếu không đạt chuẩn thì đó vẫn là không đạt chuẩn. Không thể lấy việc tốt này để bù cho một việc không đạt khác. Cho nên phải phân bổ thời gian một cách hợp lý để không một lĩnh vực nào dưới trung bình nhất là những lĩnh vực mà bạn coi là “không quan trọng”.

Cuộc sống giống như những vòng đua không ngừng, nếu ở vòng đầu bạn đã chạy nhanh đến kiệt sức để về nhất, rất có thể ở vòng sau bạn sẽ bị loại. Trên những nấc thang đi lên của cuộc sống, việc bạn có thật giỏi trên một nấc thang nào đó cũng không thay thế được việc phải đi các nấc thang kế tiếp. Bạn không được phép cố gắng quá sức ở bậc nào đó để rồi không còn sức lực để đi nữa. Phải biết giữ gìn sức lực ngay từ những bước đầu tiên để phát huy toàn lực ở các nấc cuối cùng và đoạt ngôi vô địch.

4. TƯ DUY BIỆN CHỨNG

Bất kỳ một hiện tượng hay quá trình vật chất, tinh thần nào cũng là sự thống nhất của các mặt đối lập, không tách rời nhau. Năng lượng cho vận động là sự tương tác hay đấu tranh giữa các mặt đối lập vốn có bên trong bản thân nó. Cho nên, vận động là sự tự thân vận động. Chính sự vận động làm cho các nhân tố mới xuất hiện và thay thế cho các nhân tố cũ. Cái mới đây còn là mới nay trở thành cũ. Rồi cái mới nữa lại xuất hiện thay thế tiếp tục cho cái mới hiện tại. Cái mới thường là tốt hơn và hoàn thiện hơn. Theo Karl Marx, quá trình này gọi là quá trình phủ định của phủ định hay cũng có thể gọi là quá trình tự phủ định.

Tiếp tục, các nhân tố mới và tốt ấy bao giờ cũng có mặt đối lập, hay là mặt trái không tách rời của nó. Giống như khi chặt một viên nam châm làm đôi, mỗi nửa nam châm sẽ tự hình thành một nam châm nghiêm chỉnh, dù là nhỏ cỡ nào nam châm cũng có đủ hai cực.

Một cách phân tích khác, tính ổn định và yêu cầu về sự đồng thuận cực kỳ quan trọng trong quản lý lại dường như “nghịch” với tính sáng tạo, hay còn gọi là tính đột phá vào các lĩnh vực mới, đó là đặc trưng của lãnh đạo. Nhưng cũng như hai cực của nam châm, không thể tách quản lý khỏi lãnh đạo như là hai thuộc tính độc lập được.

Như vậy là, khi tách riêng những yếu tố tích cực khỏi yếu tố được gọi là tiêu cực thì trong lòng các yếu tố tích cực phát sinh các yếu tố kém tích cực và khi đó cũng có thể gọi là tiêu cực. Và ngược lại, trong lòng các yếu tố được phân loại là tiêu cực phát sinh các yếu tố tích cực.

Lão Tử nói: “Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành thì đã có cái chẳng lành rồi”.Một cách nói khác, trong cái tốt có cái xấu, trong cái xấu có cái tốt và cuộc đấu tranh giữa cái tốt và xấu, giữa cái đúng và sai là động lực phát triển.

5. CHUYỂN GIAO CÔNG CỤ TƯ DUY

5.1 Vai trò người thầy ngày càng quan trọng

Cùng với sự phát triển của Internet, trong tương lai cách thức học tập sẽ thay đổi nhưng: “Không thầy đố mày làm nên”. Có thể là việc học tập qua mạng giúp học sinh giảm được việc phải tập trung lại vì có thể tự học, song vẫn không thể bỏ khâu lên lớp trong giảng đường. Máy tính chỉ xem là công cụ, nhất là trong những năm cuối đại học hay nghiên cứu sinh, nó không thể thay thế được cho cơ hội giao lưu giữa thầy và trò. Cho đến nay, về căn bản:

Hiệu suất trong lao động giảng dạy vẫn là thấp nhất và thuộc vào loại khó cải tiến nhất so với các loại hình lao động khác.

Trong các lớp dạy ngoại ngữ tiêu chuẩn, tốt nhất là một cô và 6-12 trò, một chỉ tiêu thuộc loại rất khó nhưng cần đạt. Những trường đại học danh tiếng thường có tỷ lệ 6-10 sinh viên cho 1 giảng viên. Đó là chưa tính lực lượng thỉnh giàng từ các đại học nổi tiếng khác đến thăm thường xuyên. Trên giảng đường lớn một giáo sư có thể giảng lý thuyết cho vài trăm sinh viên. Nhưng khi đi càng sâu vào chuyên ngành tỷ lệ sinh viên mà một thầy có thể hướng dẫn càng giảm. Sinh viên làm luận văn thường là 1 thầy dẫn 1 hoặc 2 trò là tối ưu.

Mục tiêu giáo dục còn là tăng cường kỹ năng tự định hướng, tự học tập và giao tiếp. Có một cuộc cách mạng trong cách dạy và cách học. Đa phương tiện ( multimedia ) là công cụ giáo dục trong tương lai. Các giải pháp đào tạo qua mạng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo động lực liên tục đổi mới lực lượng sản xuất. Các chương trình e-learning ( dạy học qua mạng ) được triển khai và sử dụng rộng rãi giúp giảm thiểu thời gian buộc có mặt của học viên trong khóa học, giúp học viên tham dự đầy đủ và tích cực vào các buổi học và đồng thời tăng chất lượng đào tạo. Chương trình đa dạng hơn, linh hoạt hơn và phù hợp hơn với trình độ học vấn của từng học viên.

5.2 Dạy đại học là dạy cách tự đào tạo

Nước Mỹ hiện là một mẫu mực của đào tạo đại học. Thế mà trong các kỳ thi quốc tế các học sinh Mỹ thường đứng hạng… bét. Học sinh Mỹ dốt kiến thức tổng quá nhưng khi thế giới muốn có sự đào tạo tốt nhất về khoa học kỹ thuật tiên tiến thì họ đổ xô đến Mỹ. Theo thống kê năm của những năm 1990 gần 40% số tiến sĩ tốt nghiệp tại Mỹ là người nước ngoài. Và thực chất đào tạo tiến sĩ là đào tạo năng lực sáng tạo.

Bí quyết của nước Mỹ là kết hợp thành công giảng dạy và nghiên cứu. Từ sau chiến tranh thế giới II, Mỹ thành lập nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học cao cấp. Các đại học mỹ như Viện công nghệ California ( Caltech ) hay Viện công nghệ Massachussetts (MIT) trở thành trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Cuối năm 1999 Caltech hãnh diện thông báo rằng trong thành phần giáo sư của họ có 21 nhà khao học đã được giải Nobel dàu đây không phải là một trường lớn, chỉ có 275 giáo sư và 787 sinh viên đại học. Trong số 1095 nghiên cứu sinh, số lượng học viên nước ngoài là 472.

Caltech để cho các học viên của mình tự do theo đuổi các giấc mơ của mình. Học viên không hề bị hạn chế bởi các rào cản khoa học. Các sinh viên tha hồ phá huy óc sáng tạo bằng cách hợp tác với các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

6. SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO QUY LUẬT

6.1 Sáng tạo là động lực phát triển

Không phải đến giai đoạn kinh tế tri thức người ta mới biết sáng tạo. Phát minh và sáng chế đã đi cùng loài người từ thuở bình minh của nền văn minh nhân loại, nhưng phải đến giai đoạn kinh tế tri thức sáng tạo mới đóng vai trò cực kỳ quan trọng không những chỉ như một động lực mà còn là động lực quan trọng nhất cho phát triển.

Khi mà tích lũy cơ sở vật chất trong xã hội chưa đủ lớn thì tiền là quan trọng, là thước đo, chỗ đứng hay địa vị của một người trong xã hội tùy thuộc vào số vốn vật chất mà người đó sở hữu. Trong nền kinh tế tri thức, khi mà vật chất xã hội tích lũy nhiều đến mức tiền bạc giảm bớt dần ý nghĩa quan trọng của nó thì phí sử dụng vốn ngày càng giảm, thậm chí giảm bằng không. Cơ hội nếu xét về mặt vốn đang được mở ra một cách tương đối gọi lả đồng đều nhất so với từ xưa đến nay cho tất cả mọi người.

Trong những điều kiện khi mà lực cản duy nhất cho thành công không phải là các yếu tố vật chất xã hội mà chính là ở năng lực đóng góp của mỗi người, thì kinh tế tri thức hay còn được gọi là nền kinh tế sản xuất ý tưởng sáng tạo sẽ trở thành động lực phát triển xã hội. Khi nền kinh tế chuyển từ sản xuất vật chất sang sản xuất tri thức thì sức mạnh nằm ở trí tuệ con người.

Theo định nghĩa, sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì mang trong nó đồng thời tính mới và tính ích lợi. Như vậy, cho dù có đầy đủ kinh nghiệm mà thiếu sáng tạo thì vẫn là bảo thủ lạc hậu. Sáng tạo có thể được hiểu như là bài toán giải quyết hay khắc phục các mâu thuẫn, tìm ra khâu yếu nhất của một hệ, thay đổi nó một chút theo hướng hoàn thiện hơn, như vậy sẽ làm tăng tính hiệu quả của cả hệ, và sự cải thiện chất lượng của cả hệ chính là sự tiến bộ của khâu yếu nhất của hệ.

Cẩn phải hiểu chính xác rằng kiến thức không thay thế được tư duy. Học vấn không thay thế được sáng tạo. Kiến thức là tĩnh tư duy là động. Tư duy là kỹ năng, đó là kỹ năng chế biến kiến thức để trở nên hữu dụng vào một công việc cụ thể. Cho nên sáng tạo là kỹ năng. Mà đã là kỹ năng thì có thể rèn luyện năng lực sáng tạo thông qua lao động được.

Phải phát triển đến một mức nào đó rất cao, thì xã hội mới có khả năng bị lâm vào tình huống “khủng hoảng vế sáng kiến đầu tư” mà biểu hiện của nó là giá vốn liên tục giảm và thậm chí giảm bằng không. Khi đó, tiền vốn, tài nguyên và cả kỹ thuật cũng không còn là khâu thiết yếu nhất của nền kinh tế nữa. Đó là lúc mà việc biết cách đầu tư quan trọng hơn việc có tiền để đầu tư thì quyền sở hữu vốn không còn là động lực phát triển kinh tế nữa. Chính lúc đó, quyền sở hữu trí tuệ mới quyết định động lực phát triển kinh tế.

Tận dụng cơ hội đầu tư là hoạt động chính trong nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đã và đang hoạt động rất tốt và là chuẩn mực trong các nền kinh tế hiện đại, nhưng sáng tạo ra cơ hội đầu tư mới thực sự là quan trọng.

6.2 Sáng tạo cơ hội đầu tư

Tạo ra cơ hội đầu tư là một nét mới của kinh tế thị trường khi đã chuyển được một phần sang kinh tế tri thức, khi mà vai trò của nền kinh tế có điều khiển ngày càng quan trọng hơn. Kế hoạch mà không thấy kế hoạch. Không có kế hoạch mà trong đó có kế hoạch. Một kiểu duy ý chí mà không duy ý chí, bởi vì trong ý chí là tri thức. Đây chính là đặc trưng của nền kinh tế tri thức, là tạo ra cơ hội đầu tư khác với giai đoạn trước đó của kinh tế thị trường chủ yếu là dựa vào tận dụng cơ hội đầu tư.

Hoạt động kiến tạo sáng kiến đầu tư là hoạt động chính của doanh nhân. Có hai loại sáng kiến đầu tư:

Rất ít người ý thức được rằng vận may là do người ta tự tạo ra cho mình. Và tiền bạc cũng vậy. Phải cố gắng tăng cường trí thông minh tài chính. Chỉ có như vậy bạn mới có thể tạo ra vận may cho chính mình, mới biết nắm lấy tất cả những gì xảy ra và làm cho nó ngày càng tốt đẹp hơn. Tiên đoán nhu cầu xã hội là năng lực quan trọng số một của doanh nhân trong nền kinh tế thị trường. Tiên đoán là khả năng hoạt động trí tuệ một cách sáng suốt nhằm thấy trước những vấn đề của tương lai dựa trên những quy luật hiện có. Tiên đoán làm tăng ưu thế cạnh tranh một cách tương đối so với đối thủ. Tiên đoán làm tăng quỹ thời gian có được để chuẩn bị cho sự ra đời của một sản phẩm. Tiên đoán là để tránh những biến động của thị trường. Tiên đoán là một loại kế hoạch hóa nhưng không phải là kế hoạch hóa. Không kế hoạch hóa mà lại kế hoạch hóa.

Phải biết tiên đoán như cầu dựa vào năng lực cảm nhận và phán đoán của trí tuệ không lệ thuộc vào dự báo sách vở. Năm 1985, AT&T phát minh ra điện thoại di động. Họ thuê một công ty tư vấn nổi tiếng điều tra nhu cầu của thị trường. Kết quả nghiên cứu dự báo cho thấy thị trường chưa có nhu cầu về mặt hàng này. Vậy AT&T đã xếp công trình vào ngăn tủ cho đến 8 năm sau phải nhảy vội vã vào thị trường di động bằng cách mua công ty McCaw Cellular. Ngay cả IBM cũng lỡ nhịp trong thị trường máy tính cá nhân và Microsoft cũng bị tình trạng tương tự trong lĩnh vực Internet. Ngày nay những công thức như là: “khách hàng là thượng đế” hoặc “khách hàng luôn luôn đúng” có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Sáng tạo ra nhu cầu thông qua các hoạt động khoa học. Nếu như chưa có sản phẩm, chưa biết rằng có thể có một loại sản phẩm với những tính năng nhất định như thế, làm sao người tiêu dùng biết là sản phẩm đó tốt hay xấu và nhu cầu của xã hội ra sao. Đầu tư nghiên cứu triển khai R&D và sử dụng kết quả nghiên cứu triển khai là cách để tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng.

Cái cơ chế để có thể sở hữu, mua, bán, chuyển nhượng sáng kiến chính là động lực chính của một nền kinh tế tri thức đặc biệt mà toàn thế giới đang tiến tới, đó là kinh tế tri thức.

Sáng tạo là đặc trưng của nền kinh tế tri thức nhưng không phải đến giai đoạn kinh tế tri thức người ta mới sáng tạo và mua bán sáng tạo. Điều khác biệt đặc trưng khi bước vào giai đoạn kinh tế tri thức biểu hiện ở chỗ: công việc hàng ngày của đại đa số người lao động là phát minh, sáng chế và sáng tạo ý tưởng. Máy móc và tự động hóa sẽ dần thay thế con người trong mọi hoạt động sản xuất. Và dù rằng máy tính và tự động hóa có thể thay thế hoàn toàn, giải phóng con người khỏi những công việc lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, nhưng có một công việc mà không một loại máy móc nào thay thế nổi con người đó là các lĩnh vực hoạt động sáng tạo. Sáng tạo là một loại lao động có chất lượng đặc biệt.

7.LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ TỰ HOÀN THIỆN

Quản lý là tổ chức giải bài toán, lãnh đạo là đề ra bài toán, còn tự hoàn thiện là một khái niệm còn cao hơn lãnh đạo. Đó là học hỏi, cảnh giác, tự soi xét, hiệu chỉnh và còn hơn thế nữa trong việc định hướng chiến lược cho các mục tiêu tương lại một cách khôn ngoan.

Trong tâm lý của quản lý là đồng thuận, trọng tâm của lãnh đạo là sáng tạo, còn tự hoàn thiện là quá trình liên tục phát triển.

Một hình tượng khác: “Sáng rửa cưa, trưa mài đục”. Công việc này có ý nghĩa không chỉ với người thợ mộc. Covey dùng hình tượng rửa cưa để nhắc nhở những người chỉ biết cắm cúi làm mà lâu lâu không tự nhận định lại xem việc của mình có còn thực sự có ý nghĩa hay không.

Biết thay đổi công cụ cũ bằng một công cụ mới dựa trên các nguyên lý mới cho sáng tạo hay cho quản lý là một cách tự hoàn thiện. Thoát khỏi định kiến bằng cách dùng một công cụ tư duy mới, tự trang bị lại một phương pháp luận mới hiệu quả hơn, khúc triết hơn cách cũ, mang tính cách mạng, cải cách hay đổi mới, đó là tự hoàn thiện.

8. HỌC TẬP

Nhân bất học bất tri lý

Tam tự kinh

Cùng một điều kiện học tập như nhau trong lớp học nhưng có trò giỏi trò kém. Như vậy, thầy dạy nhưng học được hay không lại do việc rèn luyện bản thân của trò là chính. Cho nên đi học để gia tăng kiến thức mới chỉ là một. Mục tiêu còn quan trọng hơn : đi học là để biết cách học. Biết cách học là có kỹ năng học hay là tự mình chủ động học tập.

Trong bài “Bàn về tự học”, Cao Xuân Hạo viết: “Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của một quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải là không quan trọng”. Đây là nguyên tắc thống nhất giữa vai trò lãnh đạo của người dạy với hoạt động tự giác sáng tạo của người học.

Khi động cơ chính của học tập là để sáng tạo, người học sẽ chủ động lựa chọn những vấn đề cần thiết một cách có hệ thống theo một mục đích xác định. Người học khi đó còn tự tìm hiểu bổ sung cho mình những kiến thức trong giáo trình không dạ. Do có mục tiêu rõ rệt nên các môn học có khi thuộc nhiều chuyên môn xa nhau đến mức người ngoài mới nhìn vào không thể thấy mối liên hệ giữa chúng.

Biết cách học tập chủ động để sáng tạo càng quan trọng hơn với những người không có điều kiện học tập chính quy. Đây là đặc điểm nổi bật của lớp doanh nhân mới ngày nay với một ý thức tự học rất cao. Học không để tụt hậu với thời đại. Học để nắm bắt kịp thời những kiến thức mới. Học để biết làm cả những việc không có trong chuyên môn của mình nhưng là doanh nhân thì không thể không làm. Và học cả trên những thất bại của người khác. Kể cả ở một nước rất tự hào về nền kinh tế thị trường như nước Mỹ thì trường học được thiết kế để tạo ra những người lao động tốt chứ không phải là những ông chủ giỏi. Cho nên nếu chỉ học từ trường lớp thì không đủ để trở thành chủ doanh nghiệp được. Honda chủ tịch hãng xe gắn máy số một thế giới đồng thời sản xuất se hơi thứ năm thế giới, lúc khởi nghiệp là một người thợ. Ông đã theo đại học và không tốt nghiệp. Thầy dạy Honda , tuổi ngang ngang với ông, sau này khi là hiệu trưởng đã tìm gặp ông và phát biểu với chút ân hận: “Đúng ra ông Honda phải tốt nghiệp với bằng danh dự”. Tên ông hiện hay ở Việt Nam quen thuộc đến mức tên chung cho các loại xe hai bánh gắn máy – xe Honda.

Học chủ động để sáng tạo có một tầm quan trọng đặc biệt đối với những người đã thành đạt. Khi còn nhỏ, nếu sai còn có may mắn là được thầy sửa cho và chấm điểm. Nhưng một khi với tư cách là con chim đầu đàn, tiên phong trong một lĩnh vực mới thì khi đó sẽ không còn thầy dạy cho mình nữa. Con đường duy nhất trong hoàn cảnh đó là tự học.

Học một biết mười là kỹ năng đặc biệt khi người học chủ động liên kết cái vừa mới học được với vốn tri thức sẵn có của mình một cách sáng tạo. Khi đó, học hỏi nhanh chóng trở thành một thứ quyền lực thực sự. Khi biết cách để không xảy ra hiện tượng “dị ứng” hay “thải loại” giữa tri thức mới với vốn tri thức đã tích lũy, nghĩa là kiến thức mới được đem áp dụng vào tất cả những lĩnh vực đã được tích lũy từ trước. Khi đó, với vốn tri thức sẵn có càng nhiều hiệu quả ứng dụng càng cao.

Học là sự nghiệp suốt đời. Biết cách học tập là biết cách tự hoàn thiện. Nắm chắc một công thức của thành công rồi cứ tiếp tục như thế học thêm một công thức mới nữa cho thành công nối tiếp. Trên thực tế, cột tài sản thực sự và duy nhất chính là trí óc, công cụ quyền lực nhất mà mỗi chúng ta có khả năng chi phối.

About these ads