TỪ TRONG RA NGOÀI

Mọi sự trên đời này không có gì thật tốt mà có thể tách rời cuộc sống đứng đắn

DAVID STARR JORDAN

Hơn hai mươi lăm năm làm việc với những người trong giới kinh doanh, đại học, hôn nhân và gia đình, tôi đã được tiếp xúc với nhiều cá nhân bề ngoài thành đạt đến mức lạ thường, nhưng bên trong đang vật lộn với một khát vọng thầm kín, một nhu cầu sâu xa được vừa ý mình, được thành đạt mà vẫn giữ được mối quan hệ lành mạnh đang phát triển với người khác.

Tôi nghĩ rằng một số vấn đề họ chia sẻ với tôi cũng quen thuộc với bạn.

Tôi đã đề ra các mục tiêu cho cuộc đời hoạt động của mình và đã đạt được những mục tiêu đó. Tôi đã có những thành công hết sức to lớn trong nghề nghiệp. Nhưng tôi phải trả giá bằng cuộc sống của bản thân và gia đình mình. Tôi không biết gì hơn về vợ con tôi. Tôi cũng không chắc đã biết được bản thân mình và cái gì đối với mình là quan trọng. Tôi đã tự hỏi: “Có đánh như thế không?”.

Tôi đã bắt đầu một đợt ăn kiêng mới, lần ăn kiêng thứ năm trong năm nay. Tôi biết thể trọng tôi đã vượt quá mức cho phép và tôi thực sự muốn thay đổi. Tôi đọc mọi thông tin mới, đề ra các mục tiêu, hạ quyết tâm thực hiện và tự nhủ là có thể làm được. Nhưng tôi không làm được. Sau vài tuần lễ, tôi xì hơi như quả bóng xẹp. Tôi đã không giữ được lời hứa với chính mình.

Tôi mở hết lớp này đến lớp khác huấn luyện phương pháp quản lý có hiệu quả. Tôi hy vọng rất nhiều ở những người làm công cho tôi và tôi tích cực gần gũi họ. Nhưng tôi không hề thấy trong họ mảy may sự trung thành đối với tôi. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó tôi ốm nằm nhà, thì họ sẽ giành phần lớn thời gian tán gẫu bên máy tính. Tại sao tôi không thể dạy họ có tính độc lập và có trách nhiệm, hoặc tại sao tôi không lại không tìm những người khác có những đức tính đó?

Đứa con trai vị thành niên của tôi bất trị và nghiện ma túy. Làm thế nào nó cũng không nghe lời tôi. Tôi có thể làm được gì đây?

Có quá nhiều việc phải làm và không bao giờ có đủ thời gian. Tôi cảm thấy bị thôi thúc và làm việc bận rộn suốt ngày, ngày nào cũng vậy, bảy ngày trong tuần. Tôi dự các cuộc hội thảo về quản lý thời gian và đã áp dụng thử có đến nửa tá hệ thống lập kế hoạch khác nhau, chúng cũng giúp tôi được phần nào, nhưng tôi vẫn không cảm thấy sống hạnh phúc, làm được việc và yên bình như mong muốn.

Tôi muốn dạy cho con cái tôi giá trị của lao động. Nhưng bảo chúng làm gì tôi cũng phải để mắt tới … và lúc nào chúng cũng kêu ca. Mình làm lấy còn dễ hơn nhiều. Tại sao các con tôi lại không tự giác làm việc, phấn khởi, hồ hởi?

Tôi rất bận – thực sự là bận – Nhưng nhiều khi, tôi tự hỏi rốt cuộc những việc tôi đang làm có thay đổi được gì không. Tôi thực sự mong rằng cuộc đời tôi có ý nghĩa, rằng bằng cách này hay cách khác, sự vật có thay đổi vì tôi đã ở đây.

Thấy bạn bè và bà con mình đạt được thành công nào đó hoặc được thừa nhận, tôi mỉm cười, nhiệt thành chúc mừng họ, nhưng trong thâm tâm tôi héo hon mòn mỏi vì đau khổ. Tại sao tôi lại cảm thấy như vậy?

Tôi có một nhân cách mạnh mẽ. Tôi biết, tôi kiểm soát được hầu hết hậu quả của bất kỳ tác động qua lại nào. Tôi làm được như vậy phần lớn nhờ tác động vào những người khác để họ làm theo ý mình. Suy nghĩ về từng trường hợp, thực sự tôi cảm thấy ý kiến của mình thường là tốt nhất cho mọi người. Tôi luôn luôn tự hỏi người khác nghĩ gì về mình và về những ý kiến của mình.

Cuộc hôn nhân của chúng tôi thật tẻ nhạt. Chúng tôi không xung đột với nhau hoặc làm cái gì khác; chỉ là chúng tôi không yêu nhau. Chúng tôi đã bàn bạc với nhau, thử làm một số việc nhưng không thể nào nhen nhóm lại tình cảm đã có trước đây.

Đây là những vấn đề sâu kín, những vấn đề đau khổ, những vấn đề mà những tiếp cận hình thành vội vã không giải quyết được.

Mấy năm nay, vợ tôi Sandra và tôi đã vật lộn với nỗi lo lắng này. Một đứa con trai của chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn ở nhà trường. Cháu học rất kém, các bài tập có hướng dẫn cháu cũng không làm được, nói chi đến làm tốt. Về mặt giao tiếp, cháu lúng túng khi có người lại gần. Về thể thao, cháu nhỏ con, gầy còm và không phối hợp được các động tác – thí dụ, cháu vung gậy đánh bóng chày trước khi quả bóng rơi xuống đất. Người ta cười chế nhạo cháu.

Sandra và tôi nóng lòng giúp cháu. Chúng tôi thấy rằng nếu “thành công” là quan trọng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thì nó là quan trọng nhất trong vai trò làm bố làm mẹ. Cho nên chúng tôi giữ gìn thái độ và tư cách đạo đức của mình để làm gương cho cháu và rèn dũa cháu. Chúng tôi thử nâng đỡ cháu bằng những thủ thuật tinh thần tích cực: “Nào, tiếp tục đi con! Con làm được mà. Bố mẹ biết con làm được. Cầm gậy cao hơn một tí, nhìn vào bóng. Đừng vung gậy trước khi bóng đến gần”. Và nếu cháu đánh khá hơn một tí, chúng tôi không tiếc lời khuyến khích cháu. “Tốt rồi, tiếp tục nữa đi, con!”.

Những đứa khác cười chúng tôi mắng chúng. “Để nó làm, buông lưng nó ra, nó đang học mà!”. Thế là cậu con trai của chúng tôi khóc, khăng khăng bảo rằng nó chưa bao giờ làm được và không thích bóng chày.

Chúng tôi cho là không giúp cháu được nữa và thực sự lo lắng. Chúng tôi biết lòng tự trọng của cháu đã bị xúc phạm. Chúng tôi đã cố gắng động viên cháu, giúp đỡ cháu, tác động tích cực, nhưng sau những thất bại liên tiếp, chúng tôi đành bỏ cuộc và nhìn nhận vấn đề trên một bình diện khác.

Vào lúc ấy, tôi tham gia vào công việc phát triển của giới lãnh đạo với khách hàng trong cả nước. Trên cương vị này, tôi soạn thảo các chương trình hai tháng về chủ đề giao tiếp và nhận thức cho các thành viên. Chương trình Phát triển Điều hành của hãng IBM.

Trong khi nghiên cứu và chuẩn bị những bản thuyết trình này, tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhận thức được hình thành như thế nào, nó chi phối cách nhìn của chúng ta như thế nào và cách nhìn của chúng ta chi phối cách xử lý của chúng ta ra sao. Điều này dẫn tôi đến nghiên cứu lý thuyết về triển vọng và tiên đoán sự tự hoàn thiện hay “hiệu ứng Pygmalion” và hiểu được nhận thức thâm nhập vào chúng ta sâu sắc ra sao. Nó dạy tôi rằng chúng ta phải nhìn vào ống kính qua đó chúng ta nhìn cuộc đời như chúng ta nhìn cuộc đời, rằng chúng ta hiểu cuộc đời ra sao thì bản thân ống kính sẽ tạo hình như vậy.

Khi Sandra và tôi trao đổi về các khái niệm mà tôi đã giảng ở IBM và về hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi bắt đầu nhận ra rằng những gì chúng tôi làm để giúp con trai chúng tôi đều không hòa hợp với cách chúng tôi nhìn cháu. Khi xem xét một cách trung thực những cảm nhận sâu kín nhất của mình, chúng tôi thấy rằng nhận thức của chúng tôi về cháu là cơ bản cháu không có khả năng, làm thế nào đi nữa thì cháu cũng vẫn “chậm tiến”. Chúng tôi có rèn luyện thái độ đạo đức mấy cũng không quan trọng, mọi cố gắng của chúng tôi đều vô hiệu, vì có nói gì làm gì đi nữa thì trên thực tế chúng tôi đã truyền đến cháu thông tin: “Con không có khả năng, con phải được bảo vệ”.

Chúng tôi bắt đầu hiểu muốn cải tạo hoàn cảnh thì trước hết phải cải tạo bản thân, và để cải tạo bản thân có kết quả, trước hết phải thay đổi nhận thức của mình.

ĐẠO ĐỨC NHÂN CÁCH VÀ ĐẠO ĐỨC TÍNH CÁCH

Cùng lúc ấy, thêm vào việc nghiên cứu nhận thức, tôi mải mê vùi đầu vào các tài liệu viết về thành công xuất bản ở Mỹ từ 1776.

Tôi đọc kỹ từng chữ hoặc lướt qua hàng trăm quyển sách, bài báo và tiểu luận về chủ đề đó như tự hoàn thiện, tâm lý quần chúng, tự lực. Tôi đã nắm được nội dung tổng quát và thực chất những cái mà những người tự do dân chủ coi là chìa khóa để thành đạt trong cuộc sống.

Công việc nghiên cứu đưa tôi quay về với những tài liệu viết về đề tài thành công qua hai trăm năm, tôi nhận thấy trong nội dung những văn bản đó nổi lên một vấn đề gây sửng sốt.

Do công việc của mình, công sức của những người đã cùng mình làm việc và quan hệ trong nhiều năm, tôi nhận ra rằng phần lớn những tài liệu về đề tài thành công trong năm mươi năm qua đều hời hợt. Nó đầy rẫy những hiểu biết về hình ảnh xã hội, về các kỹ thuật và các giải pháp nhanh, dùng băng dính và aspirin xã hội để chữa cháy những vấn đề gay gắt, đôi khi chỉ giải quyết tạm thời, mà không động đến những vấn đề thâm căn cố đế cơ bản, cứ để chúng tồn tại âm ỉ, khi có dịp lại nổi lên.

Hoàn toàn ngược lại, những tài liệu trong 150 năm đầu tập trung vào cái có thể gọi là Đạo đức Tính cách, được coi như cơ sở của thành công – đó là những vấn đề như liêm khiết, khiêm tốn, can đảm, công bằng, nhẫn nại, cần cù, giản dị và Nguyên tắc vàng. Tự truyện của Benjamin Franklin là tiêu biểu cho những tài liệu này. Về cơ bản, đó là câu chuyện về sự nỗi lực của một con người đem một số nguyên tắc và thói quen hợp thành một thể thống nhất với bản chất của mình.

Đạo đức Tính cách dạy rằng có những nguyên lý cơ bản của cách sống có hiệu quả, rằng người ta chỉ đạt được thành công thực sự và hạnh phúc lâu bền khi học tập và đem những nguyên lý này hòa nhập với tính cách cơ bản của mình. Chẳng bao lâu sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, quan điểm cơ bản về thành công được chuyển từ Đạo đức Tính cách sang cái mà chúng ta có thể gọi là Đạo đức Nhân cách. Thành công càng trở nên phụ thuộc vào nhân cách, vào hình ảnh trước công chúng, vào thái độ và hành vi, kỹ năng và kỹ xảo, tất cả những cái đó làm cho quá trình tác động qua lại của con người trở nên dễ dàng, êm thấm. Đạo đức nhân cách chủ yếu đi theo hai con đường, một con đường là các kỹ xảo về quan hệ với con người và với công chúng, con đường kia là thái độ trí tuệ tích cực. Một bộ phận của triết lý này đôi khi được phát biểu phỏng theo những câu cách ngôn có giá trị như: “Thái độ của bạn quyết định tầm cao của bạn”, “Mỉm cười chinh phục được nhiều hơn cau có”, “Trí tuệ của con người lúc nào cũng vẫn tin ở sự thành công”.

Các bộ phận khác của tiếp cận nhân cách là mánh khóe, kể cả lừa bịp, khuyến khích dùng kỹ xảo để người khác thích mình hoặc giả vờ quan tâm đến sở thích riêng của người khác để khai thác những gì mình muốn, hoặc sử dụng “cái nhìn quyền lực”, hoặc đe dọa con đường của người khác trong cuộc đời.

Một số tài liệu này thừa nhận tính cách là một bộ phận cấu thành của thành công, nhưng nó có xu hướng phân loại hơn là có tính chất cơ bản và xúc tác. Sử dụng Đạo đức Tính cách trở thành việc làm hết sức hời hợt. Sức đẩy cơ bản ở đây là các kỹ xảo gây tác dụng nhanh chóng, là các mánh khóe quyền lực, là các kỹ năng giao tiếp và các thái độ quả quyết.

Tôi bắt đầu nhận thấy chính cái Đạo đức Nhân cách này là nguồn gốc sâu xa của các giải pháp mà chúng tôi đã áp dụng cho con trai chúng tôi. Càng nghĩ sâu về sự khác nhau giữa Đạo đức Nhân cách và Đạo đức Tính cách tôi nhận ra rằng Sandra và tôi đã tách lợi ích xã hội ra khỏi hành vi đúng của con chúng tôi và trong con mắt chúng tôi, đơn giản cháu không làm nên trò trống gì cả. Hình ảnh về bản thân mình và về vai trò bố mẹ chăm sóc chu đáo của chúng tôi sâu sắc hơn hình ảnh của chúng tôi về đứa con, và điều này đã ảnh hưởng đến hình ảnh đó. Nhiều cái khác phủ lên cách nhìn và xử lý vấn đề của chúng tôi hơn là sự quan tâm của chúng tôi đến hạnh phúc của con trai mình.

Sandra và tôi nói chuyện với nhau, đau khổ nhận thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của tính cách và động cơ mình, của nhận thức mình, về đứa con. Chúng tôi biết rằng cái lí do cân nhắc về mặt xã hội không hòa hợp với giá trị sâu xa hơn của chúng tôi và có thể dẫn đến tình thương có điều kiện và cuối cùng làm cho con trai của chúng tôi tự đánh giá thấp. Cho nên, chúng tôi quyết định tập trung cố gắng vào bản thân, không phải vào các kỹ xảo mà vào các động cơ sâu kín nhất và vào nhận thức của chúng tôi về cháu. Thay vì cố gắng cải tạo cháu, chúng tôi cố gắng đứng sang một bên, tách chúng tôi khỏi cháu, cố gắng tìm hiểu những nét đặc trưng, cá tính, những tính chất riêng và giá trị của cháu.

Qua suy nghĩ sâu sắc, rèn luyện lòng tin và cầu kinh, chúng tôi bắt đầu nhìn thấy con trai chúng tôi như cháu vốn là cháu. Chúng tôi thấy trong cháu nhiều khả năng mà cháu tự thể hiện được. Chúng tôi quyết định buông lỏng, đứng ngoài để cho nhân cách cháu được bộc lộ. Chúng tôi thấy vai trò tự nhiên của mình là khẳng định, thừa nhận và coi trọng cháu. Chúng tôi cũng cân nhắc tỉ mỉ các động cơ của chúng tôi, tu dưỡng cho tâm hồn thanh thản để cảm nghĩ của mình về giá trị không phụ thuộc vào hành vi “chấp nhận được” của cháu.

Vì đã bỏ nhận thức cũ về con trai mình và phát triển những động cơ dựa trên giá trị, những cảm nghĩ mới đã bắt đầu bộc lộ. Thay cho so sánh, phê phán, chúng tôi cảm thấy vui vẻ. Chúng tôi không khuôn cháu theo hình ảnh của mình hoặc so sánh cháu với mẫu người mà xã hội mong đợi. Chúng tôi thôi nhào nặn cháu một cách khéo léo, tích cực, theo khuôn mẫu được xã hội chấp nhận. Bởi vì nhìn thấy cháu có khả năng đương đầu được với cuộc sống, chúng tôi không bảo vệ cháu chống lại mọi sự chế nhạo của bạn bè nữa.

Được nuôi dưỡng dưới sự bảo hộ này, cháu phải chịu đựng mọi đau khổ khi thất bại; cháu nói ra điều đó, chúng tôi công nhận nhưng không phản ứng. Như vậy chúng tôi đã ngầm bảo cháu “bố mẹ không cần bảo vệ con” “về cơ bản, con khá lắm”.

Ngày tháng trôi qua, cháu bắt đầu cảm thấy yên tâm tin tưởng và tự khẳng định được mình. Cháu bắt đầu khởi sắc, bằng bước chân và tốc độ của mình. Cháu nổi lên rất nhanh, theo tiêu chuẩn của xã hội cả về học tập, giao tiếp và thể thao, vượt xa cái gọi là quá trình phát triển tự nhiên. Nhiều năm trôi qua cháu được bầu vào vị trí lãnh đạo các tổ chức sinh viên, phát triển thành một vận động viên toàn năng, và bắt đầu mang về nhà hàng tập phiếu báo thành tích loại A. Cháu phát triển một nhân cách hấp dẫn và chân thật làm cho cháu có khả năng quan hệ với mọi hạng người mà không phải dọa dẫm ai.

Tôi và Sandra tin rằng những thành quả “gây ấn tượng xã hội mạnh mẽ” của con trai chúng tôi là một sự may mắn của cảm tính mà cháu có đối với bản thân hơn là sự đền đáp đơn thuần đối với các phần thưởng của xã hội. Đây là một kinh nghiệm hết sức đáng ngạc nhiên đối với chúng tôi, một kinh nghiệm có tính giáo dục cao trong thái độ cư xử với những đứa con khác của chúng tôi và trong các nhiệm vụ khác. Nó mang lại cho chúng tôi nhận thức hết sức riêng tư về sự khác nhau quan trọng giữa Đạo đức Nhân cách và Đạo đức Tính cách của thành công. Nhà soạn thánh kinh đã thể hiện tín niệm của chúng ta rất hay: “Hãy chăm chỉ cần cù tìm tòi trong trái tim của bạn để từ đó chảy ra những thành tựu của cuộc đời”.

CÁI CAO CẢ CHỦ YẾU VÀ CÁI CAO CẢ THỨ YẾU

Kinh nghiệm với đứa con trai, sự nghiên cứu về nhận thức, việc đọc các tài liệu về thành công đã tập hợp lại để tạo nên trong tôi một trong những kinh nghiệm “Aha!” trong cuộc đời khi mọi chuyện bỗng đâu vào đấy cả. Tôi nhận thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của Đạo đức Nhân cách và hiểu rõ những sự trái ngược huyền bí, đôi khi cố ý không xác định nguồn gốc, giữa cái tôi biết là sự thật – một điều mà tôi đã được dạy dỗ nhiều năm khi còn là một cậu bé và những điều nằm sâu trong ý thức tôi về giá trị – và những triết lý hình thành vội vàng hàng ngày bao quanh tôi. Tôi hiểu sâu sắc hơn tại sao, qua bao nhiêu năm làm việc với nhiều người từ mọi nẻo của cuộc đời, tôi thấy được rằng những điều tôi giảng và tôi biết là có hiệu quả lại khác với những tiếng nói của quần chúng.

Tôi không đưa ra giả thuyết là các yếu tố của Đạo đức Nhân cách – phát triển nhân cách, huấn luyện kỹ năng giao tiếp, giáo dục về các chiến lược tác động và các tư tưởng tích cực – là không có ích, trên thực tế, đôi khi là những yếu tố chủ yếu để thành công. Tôi tin chúng là như vậy. Những cái đó đều là thứ yếu, không phải là những điểm chủ yếu. Có lẽ khi sử dụng khả năng của con người để xây dựng trên nền móng của các thế hệ trước chúng ta, chúng ta đã vô ý tập trung quá vào việc xây dựng bản thân mà quên mất cái nền trên đó chúng ta đang xây dựng; hoặc là gặt hái quá lâu trên mảnh đất chúng ta không gieo trồng, có lẽ chúng ta đã quên mất sự cần thiết phải gieo trồng.

Nếu tôi cố gắng áp dụng những chiến lược tác động đến con người và các thủ thuật để người khác làm cái mà tôi muốn, để họ làm việc tốt hơn, để thúc đẩy họ hơn nữa, để họ thích tôi và thích lẫn nhau – trong lúc tính cách của tôi căn bản là không tốt, tức là hay lừa dối, không thành thực – thì cuối cùng, tôi vẫn chịu thất bại. Lừa dối đẻ ra ngờ vực và mọi việc tôi làm – ngay cả khi sử dụng cái gọi là kỹ xảo quan hệ lành mạnh của con người – cũng đều bị coi là ngụy tạo. Đơn giản là nó không khác những lời nói đẹp và những ý đồ tốt; nếu chỉ có một ít hoặc không có sự thành thật thì không có sự thành công lâu bền. Chỉ có lòng tốt cơ bản mới đem lại sức sống cho kỹ năng, kỹ xảo.

Tập trung vào kỹ năng kỹ xảo cũng giống như luyện thi ở trường. Đôi khi bạn vượt qua được thậm chí điểm còn tốt nữa, nhưng nếu bạn không trả giá ngày này qua ngày khác, thì bạn không bao giờ đạt được sự tinh thông thực sự về những vấn đề bạn học được hoặc bạn phát triển được một trí tuệ có rèn luyện.

Bạn đã bao giờ thử xem ở một nông trường người ta cố gắng đốt cháy giai đoạn thì buồn cười đến mức nào chưa? – Quên gieo trồng vào mùa xuân, chơi suốt mùa hạ rồi sau đó cố làm vào mùa thu để thu hoạch vào vụ gặt. Nông trường là một hệ thống tự nhiên. Phải trả giá đã rồi quá trình mới tiếp diễn. Anh chỉ gặt được những gì anh gieo trồng. Không thể có cách làm tắt.

Rốt cuộc, nguyên lý này cũng đúng trong cách cư xử của con người, trong quan hệ giữa người với người. Chúng cũng là những hệ thống tự nhiên dựa trên quy luật mùa gặt. Trong một thời gian ngắn, trong một hệ thống xã hội nhân tạo như trường học, anh có thể qua được nếu anh học được cách nhào nặn những nguyên tắc do con người đặt ra, cách “chơi trò chơi”. Trong phần lớn các tác động qua lại giữa con người chỉ xảy ra một lần hoặc trong một thời gian ngắn, anh có thể sử dụng Đạo đức Nhân cách để qua và gây ấn tượng có lợi bằng sự quyến rũ và các kỹ xảo, và làm ra vẻ quan tâm đến những thú vui riêng của người khác. Anh có thể chọn những kỹ xảo nhanh, dễ, có thể có giá trị trong những trường hợp ngắn hạn. Nhưng chỉ một mình những điểm thứ yếu thì không có giá trị lâu bền trong quan hệ lâu dài. Sau cùng, nếu không có sự chính trực sâu sắc và sức mạnh của tính cách cơ bản thì những thách thức của cuộc sống sẽ làm cho những động cơ thật nổi lên và sự thất bại trong quan hệ với con người sẽ thay thế cho sự thành công trong chốc lát.

Nhiều người có cái cao cả thứ yếu – như xã hội thừa nhận tài năng của mình – lại thiếu mất cái cao cả chủ yếu là lòng tốt trong tính cách của mình. Sớm hay muộn, bạn sẽ thấy điều này trong mọi quan hệ vợ chồng, bạn bè hoặc với đứa con vị thành niên đang gặp khủng hoảng cá tính. Chính tính cách đã thông báo một cách hùng hồn nhất. Như Emerson đã có lần nói: “Những điều anh hét vào tai tôi, tôi chẳng nghe được gì cả”.

Tóm lại, có những trường hợp con người có sức mạnh của tính cách nhưng lại thiếu kỹ năng giao tiếp, và không nghi ngờ gì nữa, nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của quan hệ. Nhưng ảnh hưởng chỉ là phụ.

Qua phân tích trên, chúng ta thấy trong giao tiếp, cái ta hùng biện hơn cái ta nói hoặc ta làm. Có những người, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vì chúng ta biết tính cách của họ. Dù có hùng biện hay không, dù có kỹ năng giao tiếp hay không, chúng ta vẫn tin họ và làm việc với họ có kết quả.

Theo ngôn ngữ của William George Jordan, “một sức mạnh kỳ diệu để trở nên tốt hoặc xấu – tác động lặng lẽ, vô thức, vô hình của cuộc đời – đã được trao vào tay mỗi người. Đó là sự tỏa sáng không ngừng của cái con người , chứ không phải của cái con người giả vờ là”.

SỨC MẠNH CỦA MẪU

Bảy thói quen của Những người Thành đạt cao là hiện thân của nhiều nguyên lý cơ bản của sự thành đạt của con người. Những thói quen này là cơ bản. Chúng là chủ yếu. Chúng đại diện cho những nguyên lý đúng đắn, cơ sở của hạnh phúc và thành công bền vững.

Nhưng trước khi hiểu được thật đúng bảy thói quen này.chúng ta cần hiểu “mẫu” (paradigm) của bản thân chúng ta và làm một “hoán vị mẫu” (paradigm shift) như thế nào.

Đạo đức Tính cách và Đạo đức Nhân cách cả hai đều là những thí dụ về mẫu của xã hội. Paradigm từ chữ Hy Lạp mà ra. Nó vốn là một từ khoa học, và ngày nay có nghĩa thông dụng là khuôn mẫu, là học thuyết, là nhận thức, là nhiệm vụ, là cấu trúc để tham khảo. Theo nghĩa tổng quát hơn, nó là cách chúng ta “nhìn” thế giới, không phải bằng cơ quan thị giác mà bằng nhận thức, quan niệm, cách hiểu.

Để phục vụ cho mục đích của chúng ta, một cách đơn giản để hiểu mẫu là gì, là hãy coi nó như là một bản đồ. Tất cả chúng ta đều biết rằng bản đồ không phải là một lãnh thổ. Một bản đồ đơn giản chỉ là sự giải thích một số mặt nào đó của lãnh thổ. Một mẫu chính xác là như vậy. Nó là một học thuyết, một cách giải thích, hoặc là mô hình của một cái gì đó.

Thí dụ bạn muốn đến một nơi cụ thể nào đó ở trung tâm Chicago. Một bản đồ đường phố sẽ giúp bạn được rất nhiều để tìm ra một địa chỉ mà bạn cần đến. Nhưng giả sử người ta lại cho bạn một bản đồ in nhầm. Bản đồ có nhãn là Chicago lại chính là bản đồ của Detroit. Bạn có thể tưởng tượng được tâm trạng của bạn, thất vọng bất lực khi cố tìm ra địa chỉ mong muốn.

Bạn có thể thay đổi hành vi của mình: tích cực hơn, cần cù hơn, nhanh hơn. Nhưng cố gắng của bạn cũng chỉ dẫn đến địa chỉ sai nhanh hơn.

Bạn có thể thay đổi thái độ của mình – suy nghĩ tích cực hơn. Bạn vẫn không đến được địa chỉ đúng, nhưng có lẽ bạn không lo lắng. Thái độ của bạn là tích cực, ở đâu bạn cũng vui vẻ.

Bạn vẫ cứ lạc đường. Vấn đề cơ bản là hành vi và thái độ của bạn không giúp được gì cho bạn cả.

Nếu bạn có một bản đồ chính xác Chicago thì sự cần cù trở nên quan trọng và khi gặp những trở ngại có nguy cơ dẫn đến thất bại trên đường đi thì thái độ của bạn thực sự sẽ khác. Nhưng yêu cầu đầu tiên và tối quan trọng là sự chính xác của bản đồ.

Trong đầu mỗi người chúng ta có rất nhiều, rất nhiều bản đồ. Có thể chia chúng ra thành hai loại chủ yếu: những bản đồ tình trạng các sự vật đang là, hoặc thực tại, và những bản đồ tình trạng các sự vật nên là, hoặc giá trị. Chúng ta hiểu mọi sự vật chúng ta trải qua thông qua những bản đồ tinh thần ấy. Ít khi chúng ta đặt thành vấn đề tính chính xác của chúng đến nỗi thường chúng ta không biết là có chúng. Chúng ta thừa nhận một cách đơn giản rằng tình trạng của chúng ta nhìn thấy sự vật là tình trạng sự vật đang là hoặc tình trạng sự vật nên là.

Và thái độ và hành vi của chúng ta phát sinh từ những thừa nhận đó. Tình trạng của sự vật mà chúng ta nhìn nhận là nguồn gốc của cách suy nghĩ và hành động của chúng ta.

Trước khi đi xa hơn, mời các bạn hãy tham gia một thí nghiệm trí tuệ và cảm xúc. Hãy để vài giây nhìn vào bức tranh ở hình 1.

Bây giờ bạn hãy nhìn bức tranh ở hình 2 và hãy miêu tả tỉ mỉ những gì bạn thấy.

Bạn nhìn thấy một phụ nữ phải không? Bạn bảo bà ấy bao nhiêu tuổi. Trông bà ta như thế nào? Bà ấy đeo cái gì? Theo bạn thì bà ấy đóng vai trò gì? Có lẽ bạn miêu tả người phụ nữ ở bức tranh thứ 2 là một phụ nữ khoảng 25 tuổi, rất dễ thương, lịch sự với cái mũi nhỏ và một dàng vẻ nghiêm trang. Nếu bạn là người đàn ông độc thân, chắc bạn thích được bà ta; nếu bạn là người bán lẻ hẳn bạn muốn thuê bà ta làm người mẫu.

Nhưng nếu tôi bảo bạn nhầm thì sao? Nếu tôi nói rằng bức tranh này là một bà già sáu mươi hoặc bảy mươi tuổi, trông buồn bã, có cái mũi to tướng và chắc chắn là không lịch sự?

Bà ta có thể là một bà già nào đó mà bạn đã đưa qua đường.

Ai đúng? Bạn hãy nhìn vào bức tranh một lần nữa. Bạn có nhận ra bà già không? Nếu bạn chưa nhận ra thì hãy tiếp tục cố gắng xem. Bạn có nhận ra cái mũi quằm to tướng của bà ta không? Cái cái khăn san nữa.

Nếu bạn với tôi đối diện nói chuyện với nhau, chúng ta có thể tranh luận về bức tranh. Bạn có thể nói với tôi về những gì mà bạn nhìn thấy và tôi cũng vậy. Chúng ta có thể tiếp tục trao đổi cho nhau cho đến khi bạn chỉ cho tôi thật rõ những gì bạn thấy trên bức tranh và tôi cũng vậy.

Bởi vì chúng ta không thể làm như thế nên bạn lật sang trang và xem kỹ bức tranh ở hình 3 rồi nhìn vào bức tranh này. Bây giờ bạn đã thấy được bà già chưa? Điều quan trọng là bạn nhận ra bà ta trước khi đọc tiếp.

Lần đầu tiên tôi gặp bài học này nhiều năm trước đây ở trường thương mại Harvard. Thầy giáo dùng nó để chứng minh một cách rõ ràng và hùng hồn rằng hai người cùng nhìn vào một vật mà có thể mỗi người thấy một khác, nhưng cả hai đều đúng. Đây không thuộc về logic học mà thuộc về tâm lý học.

Ông mang vào phòng một ôm những tấm bưu thiếp lớn, một nửa số thiếp có hình người phụ nữ trẻ, còn nửa kia có hình bà già. Ông phát các tấm thiếp cho cả lớp, một nửa bên này phòng nhận những tấm bưu thiếp có hình thiếu phụ trẻ, còn một nửa bên kia phòng, những tấm bưu thiếp có hình bà già. Ông bảo chúng tôi tập trung nhìn vào bức ảnh trong mười giây rồi lật úp lại. Sau đó ông chiếu lên màn ảnh bức tranh mà các bạn thấy ở hình 2, kết hợp cả hai hình và bảo chúng tôi miêu tả những gì mà chúng tôi nhìn thấy. Hầu hết những người đã nhìn thấy hình người phụ nữ trẻ trên tấm thiếp thì nhìn thấy người phụ nữ trẻ trên màn ảnh. Hầu hết những người đã nhìn thấy hình bà già trên tấm bưu thiếp thì nhìn thấy bà già trên màn ảnh.

Sau đó thầy giáo yêu cầu một sinh viên giải thích cho một sinh viên ở nhóm bên kia những gì anh ta nhìn thấy. Họ nói qua nói lại và các vấn đề trao đổi trở nên sôi nổi.

Bạn định nói gì? Bà già ư? Không đâu! Chỉ hơn 20 hoặc 22 tuổi thôi.

Ồ, bạn đùa đấy chứ. Bà ta phải 70 – không, có thể là 80 tuổi.

Bạn làm sao thế? Có mù không đấy? Đây là một phụ nữ trẻ, xinh đẹp. Tôi thích được cô ta. Cô ta rất dễ thương.

Dễ thương ư? Một mụ phù thủy già!.

Lời qua tiếng lại, ai cũng giữ vững lập trường của mình. Tất cả những cái gì đó cứ xảy ra mặc dù có một thuận lợi lớn nổi lên là phần lớn các sinh viên đều sớm biết trong cuộc trình diễn này, có một cách nhìn khác, nhưng lại không chịu thừa nhận. Tuy nhiên có một số ít thực sự cố gắng nhìn bức tranh dưới một góc độ khác.

Sau một hồi cãi vã vô ích, một sinh viên đi lên màn ảnh, chỉ vào một nét vẽ trên bức tranh. “Đây là chuỗi hạt của người thiếu phụ”. Một sinh viên khác nói: “Không phải, đấy là miệng của bà già”. Dần dần, họ bình tĩnh lại, thảo luận về những điểm khác nhau chủ yếu, và sau cùng một sinh viên, rồi một sinh viên nữa thừa nhận ngay khi hình ảnh của hai người phụ nữ trở nên rõ ràng. Qua trao đổi bình tĩnh, tôn trọng lẫn nhau, và trao đổi riêng, sau cùng ai cũng nhận ra được cách nhìn khác. Nhưng khi chúng tôi nhìn đi nơi khác rồi quay lại, phần lớn chúng tôi nhận ra hình ảnh của người phụ nữ mà chúng tôi đã nhận thấy trong thời gian 10 giây.

Tôi thường dùng sự chứng minh nhận thức này khi làm việc với các cá nhân và tổ chức, bởi vì nó mang lại những hiểu biết sâu sắc về các ấn tượng cá nhân giữa cá nhân với nhau. Trước hết nó chỉ ra rằng việc tạo điều kiện ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức, đến mẫu của chúng ta như thế nào. Chỉ 10 giây mà đã ảnh hưởng đến cách nhìn nhận sự vật của chúng ta như thế thì các điều kiện của cuộc đời sẽ ra sao? Các ảnh hưởng trong cuộc đời chúng ta – gia đình, trường học, nhà thờ, môi trường công tác, bạn bè, người cộng tác và các mẫu xã hội hiện có như Đạo đức Nhân cách, tất cả những cái đó âm thầm vô thức ảnh hưởng đến chúng ta và giúp chúng ta hình thành hệ tham chiếu của chúng ta, mẫu của chúng ta, bản đồ của chúng ta.

Nó cũng chỉ ra rằng các mẫu này là nguồn gốc của thái độ và hành vi của chúng ta. Chúng ta không thể hành động hoàn toàn ở bên ngoài chúng ta được. Chúng ta chỉ không giữ được sự trọn vẹn khi chúng ta nói và làm khác với chúng ta thấy. Nếu bạn nằm trong số 90% những người nhìn thấy người phụ nữ trẻ trong bức tranh tổng hợp thì khó mà nghĩ ra bạn đã giúp bà già đi qua đường. Cả hai, thái độ và hành vi của bạn đối với bà già phù hợp với cách bạn nhìn thấy bà ta.

Điều này làm nổi bật một trong những thiếu sót cơ bản của Đạo đức Nhân cách. Cố gắng thay đổi thái độ và hành vi bề ngoài rốt cuộc chỉ là một việc tốt rất nhỏ nếu chúng ta không xem xét những mẫu cơ bản tử đó xuất phát các thái độ và hành vi ấy.

Sự trình diễn về nhận thức này cũng cho ta thấy các mẫu của chúng ta ảnh hưởng mạnh mẽ như thế nào đến cách chúng ta đối xử với người khác. Khi nhìn sự vật và suy nghĩ về sự vật một cách rõ ràng và chủ quan, chúng ta phải thừa nhận rằng những người khác nhìn nhận những sự vật đó một cách khác cũng từ một quan điểm rõ ràng và chủ quan không kém gì mình. “Nơi chúng ta đứng dậy phụ thuộc vào nơi chúng ta ngồi”.

Mỗi người trong chúng ta đều có xu hướng nghĩ rằng chúng ta nhìn nhận sự vật như chúng vốn là, chúng ta là khách quan. Không phải như vậy. Chúng ta nhìn thế giới không phải như nó là mà như chúng ta là, hoặc như chúng ta đã quy ước nhìn nó. Khi miêu tà cái mà chúng ta nhìn thấy, thực tế là chúng ta miêu tả bản thân, miêu tả nhận thức của chúng ta, mẫu của chúng ta.

Khi người khác không nhất trí với chúng ta, chúng ta nghĩ rằng họ sai. Nhưng sự trình diễn đã chỉ rõ rằng những người chân thành, sáng suốt, nhìn sự vật khác nhau, mỗi người nhìn qua những lăng kính kinh nghiệm của riêng mình.

Điều này không có nghĩa là không có sự thật. Trong sự trình diễn, hai cá nhân từ đầu chịu ảnh hưởng của hai bức tranh tạo điều kiện khác nhau, cùng nhìn vào bức tranh thứ ba. Bây giờ, cả hai đều nhìn vào những sự thật giống hệt nhau – những đường đen và những mảng trắng – và cả hai đều thừa nhận đó là sự thật. Nhưng mỗi người lại diễn tả sự thật này theo kinh nghiệm vốn có của mình và những sự thật này không có cái nào ngoài sự diễn tả cả.

Càng hiểu về mẫu cơ bản, cái bản đồ, hoặc cái điều chúng ta thừa nhận và phạm vi ảnh hưởng của kinh nghiệm chúng ta đối với những cái đó, chúng ta càng qui trách nhiệm cho những mẫu đó, xem xét chúng, đem chúng thử nghiệm trong thực tế, nghe những người khác và sẵn sàng tiếp nhận những nhận thức của họ, bằng cách đó, chúng ta sẽ có những bức tranh rộng hơn và một cái nhìn khách quan hơn nhiều.

SỨC MẠNH CỦA MỘT HOÁN VỊ MẪU

Có lẽ hiểu biết sâu sắc quan trọng nhất mà chúng ta thu hoạch được từ sự trình diễn nhận thức là trên phạm vi của hoán vị mẫu, cái mà chúng ta có thể gọi là kinh nghiệm “Aha!” khi một người nào đó cuối cùng nhìn thấy bức tranh tổng hợp một cách khác. Một người càng bị nhận thức ban đầu hạn chế thì kinh nghiệm “Aha” càng mạnh. Dường như một tia sáng lóe lên trong nội tâm.

Cụm từ hoán vị mẫu do Thomas Kuhn đưa vào trong cuốn sách đánh dấu một bước ngoặt có ảnh hưởng lớn, cuốn Cấu trúc của cách mạng khoa học của ông. Kuhn chỉ ra rằng hầu hết những cuộc tấn công có ý nghĩa trên lĩnh vực khoa học trước hết là tấn công vào tập quán, vào những suy nghĩ cũ kỹ, vào những mẫu cũ kỹ.

Đối với Ptolemy, nhà thiên văn học vĩ đại Ai Cập, trái đất là trung tâm của vũ trụ. Nhưng Copernicus sáng tạo ra một hoán vị mẫu, đặt mặt trời vào trung tâm vũ trụ, bất chấp mọi sự phản đối và khủng bố. Thế là mọi vật lại có một cách hiểu khác.

Mô hình vật lý Newton là một mẫu máy móc và vẫn còn là cơ sở của ngành cơ khí hiện đại. Nhưng nó có tính cục bộ, không toàn diện. Thế giới khoa học được mẫu của Einstein cách mạng hóa, mẫu tương đối luận, có tính dự đoán và giải thích cao hơn rất nhiều.

Cho đến khi lý thuyết về vi trùng phát triển, tỷ lệ tử vong của sản phụ và của trẻ sơ sinh cao, nhưng không ai hiểu vì lý do gì. Trong các cuộc giao tranh, số người chết vì những vết thương nhẹ và vì bệnh tật cao hơn số người chết vì những chấn thương nặng trên tiền tuyến. Nhưng khi lý thuyết về vi trùng phát triển, một mẫu hoàn toàn mới, tốt hơn, đã làm cho người ta hiểu rằng cái gì đang xảy ra cho nền y học có khả năng tiến bộ một cách nhanh chóng không ngờ.

Nước Mỹ ngày nay là thành quả của một hoán vị mẫu. Quan niệm truyền thống hàng thế kỷ nay về chính phủ là một nền quân chủ, là quyền lực thiêng liêng của các ông vua. Rồi một mẫu khác được phát triển – chính phủ của dân, do dân, vì dân. Và một nền dân chủ theo hiến pháp ra đời, giải phóng nghị lực và tài trí vô cùng to lớn của con người, tạo ra một tiêu chuẩn của cuộc sống, của tự do và bình đẳng, của thế lực và hi vọng chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Không phải tất cả các hoán vị mẫu đều có hướng tích cực. Như chúng ta đã nhận xét, hoán vị từ Đạo đức Tính cách sang Đạo đức Nhân cách đã đưa chúng ta đi chệch con đường đúng đắn dẫn đến thành công và đứng đắn thực sự.

Nhưng dầu chúng đưa chúng ta vào những hướng tích cực hay tiêu cực, dù chúng hình thành đột ngột hay phát triển dần, các hoán vị mẫu bao giờ cũng đưa chúng ta từ cách nhìn thế giới này sang cách nhìn thế giới khác. Và những hoán vị này gây nên những thay đổi mạnh mẽ. Mẫu của chúng ta, đúng đắn hay không đúng đắn, đều là những nguồn gốc của thái độ và hành vi của chúng ta, và cuối cùng của mối quan hệ của chúng ta với những người khác.

Tôi còn nhớ một hoán vị mẫu mini mà tôi đã kinh qua, một sáng chủ nhật, trên đường xe lửa ngầm ở New York. Mọi người đang yên lặng – người đọc báo, người trầm ngâm suy nghĩ, người lim dim ngủ. Thật là một cảnh yên bình.

Bỗng một người đàn ông và các con ông bước vào toa tàu. Bọn trẻ ồn ào, khó bảo làm cho không khí toa tàu bỗng nhiên thay đổi hẳn.

Người đàn ông ngồi xuống cạnh tôi, nhắm mắt, hình như không chú ý đến những gì đang xảy ra. Bọn trẻ la hét, ném đồ vật, vồ cả mấy tờ báo của người khác. Chúng quấy đảo quá, nhưng người đàn ông ngồi cạnh tôi vẫn không làm gì.

Thật khó mà không nổi cáu. Tôi không thể tin rằng ông ta vô tâm đến thế, để cho bọn trẻ chạy loạn lên mà không làm gì cả, coi như không có trách nhiệm gì. Dễ nhìn thấy những người khác trong toa cũng đều nổi giận. Sau cùng, không thể chịu đựng được nữa, tôi quay sang ông ta và nói: “Thưa ông, bọn trẻ nhà ông quấy đảo quá. Ông không bảo chúng được một câu hay sao?”.

Người đàn ông ngước mắt nhìn như lần đầu tiên biết được tình hình này và nhẹ nhàng nói: “Vâng, thưa ông, chúng tôi vừa ở bệnh viện ra, mẹ các cháu vừa mất cách đây khoảng một giờ. Tôi không biết nghĩ như thế nào. Tôi cho rằng chúng cũng không biết xử trí ra sao”.

Bạn có thể hình dung lúc đó tôi cảm thấy gì không? Mẫu của tôi đã hoán vị. Bỗng tôi nhìn sự vật một cách khác và bởi vì tôi nhìn khác nên tôi cũng nghĩ khác. Cơn giận của tôi biến mất. Tôi không phải lo kiểm soát thái độ hay hành vi của tôi; con tim tôi tràn đầy nỗi đau của người đàn ông ấy. Mối thiện cảm và lòng thương dâng lên trong tôi. “Vợ ông mất ư? Ồ, xin lỗi! Ông có thể cho tôi biết chuyện được không? Tôi giúp gì được cho ông đây?” Mọi cái đã thay đổi trong chốc lát.

Nhiều người đã trải qua sự hoán vị cơ bản tương tự trong suy nghĩ khi đứng trước một sự khủng hoảng đe dọa cuộc sống và bỗng nhìn những điều ưu tiên của mình bằng một con mắt khác, hoặc khi họ đột ngột bước vào một vai trò khác như làm vợ hay chồng, làm bố mẹ, ông bà, làm giám đốc hay lãnh đạo.

Chúng ta có thể mất nhiều tuần, nhiều tháng, ngay cả nhiều năm rèn luyện Đạo đức Tính cách để thay đổi thái độ và hành vi của chúng ta mà chưa hẳn đã bắt đầu tiếp cận hiện tượng thay đổi, thế nhưng sự thay đổi xảy ra ngay khi chúng ta nhìn sự vật một cách khác.

Rõ ràng là nếu ta muốn thay đổi chút ít trong cuộc sống, chúng ta có thể tập trung một cách thích đáng vào thái độ và hành vi của chúng ta. Nhưng nếu muốn thay đổi đáng kể thì chúng ta cần thay đổi mẫu cơ bản của chúng ta.

Theo cách nói của Thoreau, “trong nghìn nhát cắt những chiếc lá của tội lỗi, có một nhát cắt tận gốc”. Chúng ta chỉ có thể đạt được những tiến bộ to lớn trong cuộc sống của chúng ta khi chúng ta cắt những chiếc lá của thái độ và hành vi và chăm bón gốc rễ – những mẫu mà từ đó thái độ và hành vi của chúng ta sinh ra.

HIỆN TƯỢNG VÀ BẢN CHẤT

Tất nhiên không phải tất cả các hoán vị mẫu đều phát sinh tức thời. Không giống như sự cảm nhận sâu sắc tức thời của tôi trên toa xe điện ngầm, hoán vị mẫu của Sandra và tôi về đứa con trai của chúng tôi xảy ra chậm chạp, khó khăn và được cân nhắc kỹ. Tiếp cận mà lần đầu tiên chúng tôi có với cháu là kết quả tất nhiên của nhiều năm tạo điều kiện và thử nghiệm trên Đạo đức Nhân cách. Đó là kết quả của những mẫu sâu hơn mà chúng tôi sử dụng cho bản thân là người làm cha làm mẹ và để đánh giá thành công của con trai chúng tôi. Điều đó đã không xảy ra cho đến khi chúng tôi thay đổi những mẫu cơ bản này, cho đến khi chúng tôi thấy sự vật một cách khác, chúng tôi có thể tạo ra những thay đổi lớn trong bản thân chúng tôi và thay đổi tình hình.

Để nhìn con trai chúng tôi một cách khác, Sandra và tôi phải khác. Mẫu mới của chúng tôi đã được hình thành như chúng tôi đã đầu tư vào sự phát sinh và phát triển của tính cách chúng tôi.

Mẫu không thể tách khỏi tính cách. Bản chất là cái nhìn thấy theo khuôn mẫu của con người. Và cái chúng ta thấy quan hệ qua lại mật thiết với bản thân của chúng ta. Chúng ta không thể thay đổi rất nhiều cách nhìn của chúng ta mà không đồng thời thay đổi bản chất của chúng ta và ngược lại.

Ngay cả trong hoán vị mẫu có vẻ tức thời của tôi sáng hôm ấy trên xe lửa ngầm, sự thay đổi cách nhìn của tôi cũng là kết quả của – và cũng giới hạn bởi – bản chất của tôi.

Tôi chắc có nhiều người, ngay cả khi hiểu ra được thực trạng cũng cảm thấy không hơn một sự bứt rứt băn khoăn, một tội lỗi mơ hồ khi vẫn ngồi yên lặng ngượng ngùng cạnh người đàn ông đau khổ, bối rối. Mặt khác, tôi cũng tin có những người khác rất nhạy cảm, ngay từ đầu đã nhận ra rằng có một vấn đề sâu hơn, tìm hiểu và giúp đỡ trước khi tôi làm.

Các mẫu có sức mạnh vì chúng tạo ra ống kính qua đó chúng ta thấy cuộc đời. Sức mạnh của hoán vị mẫu là sức mạnh chủ yếu của sự chuyển hóa lớn, dù sự hoán vị đó xảy ra tức thì hay qua một quá trình chậm chạp và được cân nhắc kỹ.

MẪU CÓ TRUNG TÂM LÀ NGUYÊN LÝ

Đạo đức Tính cách dựa trên một khái niệm cơ bản rằng có những nguyên lý chi phối tính hiệu quả của con người – những định luật tự nhiên trong lĩnh vực con người, có thật, bất biến và không phải bàn cãi như định luật vạn vật hấp dẫn trong giới vật chất.

Người ta đã bắt gặp một khái niệm về sự có thật và về những tác động của nguyên lý này trong một thí dụ về hoán vị mẫu được Frank Koch thuật lại trong tạp chí Hành động của Học viện hải quân.

Hai chiến hạm được phân vào đội tàu huấn luyện đang thao diễn nhiều ngày trên biển trong thời tiết âm u. Tôi phục vụ trên chiến hạm chỉ huy và đứng gác trên boong quan sát mọi hoạt động.

Đêm xuống được một lúc, người lính gác bên mạn boong tàu báo cáo: “Có ánh sáng ở mạn bên phải của mũi tàu”.

“Đứng yên hay đi về phía lái?” Thuyền trưởng hỏi. Người gác trả lời: “Báo cáo thuyền trưởng, đứng yên”, có nghĩa là chúng tôi đang trên hướng nguy hiểm, sẽ đụng phải chiếc tàu kia.

Thuyền trưởng ra lệnh cho người đánh tín hiệu: “Báo cáo cho tàu kia: Chúng ta đang trên hướng đụng nhau, yêu cầu bạn đổi hướng hai mươi độ”.

Tín hiệu trả lời: “Thích hợp nhất là các bạn đổi hướng hai mươi độ”.

Thuyền trưởng nói: “Đánh đi! Tôi là thuyền trưởng, hãy đổi hướng hai mươi độ”.

“Tôi là thủy binh hạng nhì”. Tín hiệu trả lời: “Tốt hơn hết là các bạn hãy đổi hướng đi hai mươi độ”.

Lúc đó thuyền trưởng giận sôi lên: “Đánh đi, tôi là một chiến hạm. Đổi hướng hai mươi độ ngay”.

Ánh đèn đáp lại: “Tôi là hải đăng”.

Và chúng tôi đổi hướng.

Hoán vị mẫu của thuyền trưởng – và của chúng tôi khi đọc bài tường thuật này – đem tình thế vào một trạng thái hoàn toàn khác. Chúng ta có thể thấy một sự thật bị lấp đi bởi nhận thức hạn chế – một sự thật nguy hiểm đối với chúng ta trong cuộc sống hàng ngày cũng như đối với thuyền trưởng trong sương mù.

Các nguyên lý cũng giống như những hải đăng. Có những định luật tự nhiên không thể bác bỏ được. Như Cecil B. de Mill đã nhận xét về các nguyên lý trong bộ phim bất hủ của ông Mười điều răn của chúa: “ Chúng ta không thể nào thay đổi quy luật. Chúng ta chỉ có thể thay đổi bản thân theo quy luật”.

Khi những cá nhân có thể xem xét cuộc đời của mình và những tác động qua lại căn cứ vào các mẫu hoặc các bản đồ phát sinh từ kinh nghiệm và điều kiện của mình, thì những bản đồ đó không phải là lãnh thổ. Chúng chỉ là một “thực tại chủ quan”, một cố gắng mô tả lãnh thổ mà thôi.

“Thực tại khách quan” hoặc bản thân lãnh thổ được cấu tạo bằng những nguyên lý “đèn biển” chi phối sự sinh trưởng và hạnh phúc của con người – những quy luật tự nhiên được đưa vào cấu trúc của mọi xã hội văn minh trong lịch sử và trong nền tảng của mỗi gia đình và mỗi thể chế, tồn tại và phồn vinh. Độ chính xác của các bản đồ tâm linh của chúng ta khi miêu tả lãnh thổ không thay đổi sự tồn tại của chúng.

Sự thật của những nguyên lý như vậy hoặc những quy luật tự nhiên trở thành rõ ràng cho những ai suy nghĩ sâu xa và xem xét các chu kỳ của lịch sử xã hội. Những nguyên lý này nổi lên hết lần này đến lần khác và mức độ mà con người trong một xã hội thừa nhận và sống hòa hợp với chúng dẫn chúng đến sự sống còn và ổn định hay phân hủy và tiêu diệt.

Những nguyên lý mà tôi nhắc đến không phải là những khái niệm riêng tư, bí mật, hoặc “tôn giáo”. Không một nguyên lý nào trong cuốn sách này là riêng tư của một tín điều hoặc “tôn giáo”, kể cả của tôi. Những nguyên lý này là một bộ phận của hầu hết các tôn giáo chủ yếu đang tồn tại cũng như các triết học xã hội và các hệ thống đạo đức bền vững. Chúng là hiển nhiên và bất kỳ cá nhân nào cũng có thể làm cho nó có hiệu lực. Hầu như những nguyên lý này hay qui luật tự nhiên là một bộ phận của thân phận con người, một bộ phận của ý thức con người, của lương tâm con người. Hình như chúng tồn tại trong mỗi con người bất chấp các điều kiện xã hội và lòng trung thành đối với chúng ngay cả khi chúng có thể bị những điều kiện đó hoặc sự phản bội nhấn chìm hay làm cho tê liệt.

Thí dụ tôi đang nhắc đến nguyên lý của sự công bằng, từ đó toàn bộ quan niệm của chúng ta về vô tư và công lý phát triển. Những đứa bé hình như có ý thức bẩm sinh khái niệm công bằng trừ khi có những điều kiện ngược lại. Có nhiều sự khác nhau rất lớn về định nghĩa sự công bằng và cách đạt được công bằng nhưng nhận thức về khái niệm này có tính phổ biến.

Những thí dụ khác, trong đó có tính chính trựctính trung thực. Chúng tạo nên nền tảng lòng tin vốn là yếu tố chủ yếu của hợp tác và phát triển lâu dài của con người và giữa con người với nhau.

Một nguyên lý khác là nhân phẩm. Quan niệm cơ bản trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ chứng tỏ giá trị hoặc nguyên lý này. “Chúng tôi cho rằng chân lý này là hiển nhiên: rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng và tạo hóa đã cho họ một số quyền không thể chuyển nhượng cho ai được, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”.

Một nguyên lý khác là phục vụ, hoặc khái niệm về sự cống hiến. Một nguyên lý nữa là phẩm chất hay tính ưu tú.

Có nguyên lý về tiềm năng, khái niệm phôi thai trong chúng ta và có thể sinh trưởng và phát triển, càng ngày năng lực càng được giải phóng, tài năng càng được phát triển. Liên quan chặt chẽ với tiềm năng là nguyên lý về sinh trưởng – quá trình giải phóng tiềm năng và phát triển tài năng, cần phải có các nguyên lý khác kèm theo như tính kiên nhẫn, sự nuôi dưỡng và sự động viên.

Nguyên lý không phải là một thực tiễn. Thực tiễn là một hoạt động đặc trưng, một hành động. Một thực tiễn có hiệu quả trong tình huống này không nhất thiết có hiệu quả trong tình huống khác. Các ông bố bà mẹ thử dạy dỗ đứa con thứ hai hoàn toàn giống đứa con thứ nhất đều chứng nhận điều đó.

Nếu thực tiễn có tính đặc trưng tình huống thì nguyên lý là chân lý cơ bản có tính phổ biến. Chúng áp dụng cho cá nhân, cho hôn nhân, gia đình, cho các tổ chức tư nhân và tập thể các loại. Khi những nguyên lý này hòa nhập vào thói quen thì chúng làm cho con người có khả năng sáng tạo đủ các loại thực tiễn dùng trong các tình huống khác nhau.

Nguyên lý không phải giá trị. Một bọn cướp có thể chia nhau giá trị nhưng chúng đã vi phạm nguyên lý cơ bản mà chúng ta đã nói tới. Nguyên lý là lãnh thổ, giá trị là bản đồ. Khi đánh giá đúng nguyên lý, chúng ta có chân lý. Chân lý là sự hiểu biết sự vật đúng với bản chất của chúng.

Nguyên lý là nguyên tắc chỉ đạo hành động của con người. Chúng đã được chứng minh là có giá trị lâu bền, cố định. Chúng là cơ bản. Chủ yếu người ta không thể chứng minh được chúng vì chúng là hiển nhiên. “Một cách để nhanh chóng nắm được tính hiển nhiên của nguyên lý là xem xét sự vô lý khi mưu đồ một cuộc sống thành đạt dựa trên những gì trái với nguyên lý. Tôi cho rằng chẳng ai nghiêm túc coi bất công, lừa dối, đê tiện, tầm thường hoặc suy đồi là nền tảng vững chắc của hạnh phúc và thành công lâu dài. Mặc dù người ta có thể tranh luận với nhau làm thế nào để xác định hoặc để thể hiện hoặc để thực hiện các nguyên lý đó, hình như vẫn có một ý thức và một nhận thức bẩm sinh là chúng tồn tại.

Các bản đồ hoặc mẫu của chúng càng gần với những nguyên lý hoặc qui luật tự nhiên đó thì càng chính xác, càng đúng chức năng. Những bản đồ chính xác ảnh hưởng vô hạn đến sự thành đạt của chúng ta, hơn xa bất kỳ cố gắng nào để thay đổi thái độ và hành vi của chúng ta.

NGUYÊN LÝ CỦA SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ THAY ĐỔI

Vẻ hào nhoáng của Đạo đức Nhân cách, sức hấp dẫn to lớn đó, là ở chỗ có một cách nào đó dễ dàng và nhanh chóng đạt được chất lượng của cuộc sống – hiệu quả của cá nhân và mọi quan hệ phong phú, sâu sắc với người khác – mà không qua quá trình tự nhiên của lao động và phát triển như nó phải có.

Đó là biểu tưởng không có thực chất. Đó là âm mưu “làm giàu nhanh”, hứa hẹn “giàu có không phải lao động”. Và có thể hình như là thành công – nhưng mưu gian vẫn tồn tại.

Đạo đức Nhân cách là hão huyền và dối trá. Cố gắng đạt kết quả chất lượng cao với những kỹ xảo những biện pháp vội vàng cũng gần như cố gắng tìm một địa chỉ nào đó ở Chicago trên bản đồ của Detroit.

Theo cách nói của Erich Fromin, một nhà quan sát sắc sảo nguồn gốc và thành quả của Đạo đức Nhân cách:

Hôm nay, chúng tôi tình cờ gặp một người hành động như một người máy, hẳn không biết hoặc không hiểu bản thân, người duy nhất hắn biết là người mà hắn tưởng tượng ra, lời lẽ huyên thuyên của nó thay cho những câu nói tâm tình, nụ cười giả tạo của hắn thay cho tiếng cười chân thực, ý thức tuyệt vọng ngu ngốc thay cho nỗi buồn thực sự. Có thể nói về người đó hai cách. Một là hắn bị bệnh tự do chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa không chữa được. Đồng thời cũng có thể nói là về cơ bản, hắn không khác gì hàng triệu người khác trong chúng ta đang đi trên trái đất này.

Trong suốt cuộc đời, những giai đoạn sinh trưởng và phát triển nối tiếp nhau. Một đứa bé học lẫy, học ngồi, học bò rồi học đi và chạy. Mỗi bước đi đều quan trọng và bước nào có thời kỳ của bước đó. Không thể bỏ qua bước nào cả.

Điều này đúng với mọi giai đoạn của cuộc đời, đúng với mọi lĩnh vực phát triển, bất kỳ là học chơi đàn dương cầm hoặc giao tiếp có hiệu quả với một bạn đồng nghiệp, đúng với các cá nhân, đúng với các cuộc hôn nhân, các gia đình, các tổ chức.

Chúng ta biết và chấp nhận sự thực này hoặc nguyên lý quá trình trong lĩnh vực vật chất, nhưng để hiểu nó trong lĩnh vực tình cảm, trong quan hệ với con người và ngay cả trong lĩnh vực tính cách cá nhân thì không bình thường lắm và nhiều khó khăn hơn. Bởi vậy, đôi khi chúng ta tìm một con đường tắt, hy vọng có thể bỏ qua vài bước quan trọng để tiết kiệm thời gian và công sức và còn thu được kết quả mong muốn nữa.

Nhưng cái gì sẽ xảy ra khi chúng ta định bỏ quãng một quá trình tự nhiên trong sự sinh trưởng và phát triển của chúng ta? Nếu bạn chỉ là một vận động viên quần vợt trung bình mà lại định chơi ở hạng cao để gây ấn tượng tốt hơn thì cái gì sẽ đến? Bạn có nghĩ rằng bạn thắng được một vận động viên chuyên nghiệp không?

Bạn có thể làm cho bạn bè tin rằng bạn có thể chơi dương cầm trong giàn nhạc giao hưởng khi kỹ năng của bạn mới ở trình độ người mới học đàn?

Câu trả lời đã rõ. Đơn giản là không thể vi phạm, làm ngơ hoặc bỏ quãng quá trình phát triển ấy. Như vậy là trái với tự nhiên, và mưu toan tìm một con đường tắt chỉ dẫn đến chán nản và thất bại.

Trên cái thang mười bậc nếu tôi mới ở bậc thứ hai mà muốn leo lên bậc thang thứ năm thì trước hết tôi phải bước lên bậc thang thứ ba đã. “Một cuộc hành trình nghìn dặm bắt đầu bằng bước chân thứ nhất” và mỗi lần, chúng ta chỉ bước được một bước.

Nếu bạn không để cho thầy giáo biết trình độ của bạn – bằng cách đặt một câu hỏi hoặc bộc lộ sự kém cỏi của mình – bạn sẽ không học được hoặc không tiến được. Bạn không thể giả vờ lâu được, để cuối cùng bị phát hiện. Chấp nhận sự yếu kém là bước đầu của sự học tập của chúng ta. Thoreau dạy rằng “trong mọi lúc, khi sử dụng kiến thức, chúng ta không biết đến đâu thì sự tiến bộ của chúng ta yêu cầu đến đó”.

Tôi nhớ lại một lần hai thiếu phụ, con gái của một người bạn của tôi đến gặp tôi, mắt đẫm lệ, phàn nàn về tính cục cằn và sự thiếu thông cảm của ông bố. Họ không dám nói điều đó với bố mẹ vì sợ hậu quả. Vả lại họ còn cần đến tình yêu, sự thông cảm và sự dìu dắt của bố mẹ.

Tôi nói chuyện với ông bố và thấy ông rất hiểu biết về việc xảy ra. Nhưng khi thừa nhận rằng ông nóng tính, ông không chịu trách nhiệm về việc ông làm và không chấp nhận một cách thành thực rằng sự thật là trình độ phát triển tình cảm của ông thấp. Hơn thế nữa, tính kiêu ngạo của ông không cho ông đặt bước chân đầu tiên lên con đường thay đổi.

Để quan hệ có hiệu quả với một người vợ, một người chồng, con cái, bạn bè hoặc bạn đồng nghiệp,tôi phải học lắng nghe. Và điều này đòi hỏi sức mạnh tình cảm. Muốn lắng nghe thì phải kiên nhẫn, cởi mở và có yêu cầu hiểu vấn đề. Đó là chất lượng phát triển cao của tính cách. Hoạt động ở một trình độ tình cảm thấp và cho những lời chỉ bảo ở trình độ cao thì quá dễ dàng.

Khi chơi quần vợt hoặc piano, trình độ phát triển của chúng ta khá rõ ràng, không thể giả vờ được. Nhưng trong các lĩnh vực phát triển tính cách và tình cảm thì không rõ ràng như thế. Chúng ta có thể “vặn vẹo” hoặc “lừa dối” một người lạ hoặc một người cộng tác. Chúng ta có thể giả vờ. Và trong chốc lát, chúng ta có thể qua được – ít nhất là trước công chúng. Chúng ta có thể lừa dối ngay cả bản thân mình. Tôi tin rằng đa số chúng ta biết được sự thật bên trong chúng ta như thế nào, và tôi nghĩ rằng nhiều người sống với chúng ta, làm việc với chúng ta cũng như vậy.

Tôi thường thấy hậu quả của những mưu đồ bỏ quãng quá trình sinh trưởng tự nhiên này trong giới kinh doanh, ở đây các ủy viên ban quản trị âm mưu “mua” một công trình mới về cải tiến năng suất, chất lượng, tinh thần và dịch vụ khách hàng với lời lẽ mạnh mẽ, bộ mặt vui vẻ, và những can thiệp từ bên ngoài hoặc qua việc sát nhập, chiếm đoạt, tiếp quản một cách hữu nghị hoặc không hữu nghị. Nhưng họ không biết hoạt động của họ đã tạo ra một môi trường tín nhiệm thấp. Khi không dùng những biện pháp này, họ đi tìm những kỹ xảo khác của Đạo đức Nhân cách, lúc nào cũng phớt lờ và vi phạm những nguyên lý và các quá trình tự nhiên, cơ sở của một sự tín nhiệm cao.

Tôi còn nhớ đã vi phạm nguyên lý này trên cương vị người cha cách đây nhiều năm. Một hôm, tôi về nhà dự sinh nhật cô con gái ba tuổi của tôi. Tôi thấy cháu ở trong một góc phòng khư khư giữ tất cả các quà tặng, không muốn cho các bạn khác cùng chơi. Điều đầu tiên tôi nhận thấy là nhiều bậc cha mẹ ở trong phòng đều chứng kiến thái độ ích kỷ của cháu. Tôi lúng túng, ngượng ngùng, bởi vì lúc bấy giờ, tôi đang giảng về quan hệ giữa con người với nhau ở các lớp đại học. Tôi biết,ít nhất là tôi cảm thấy, sự mong chờ của các ông bố bà mẹ đó.

Không khí trong phòng thật sự căng thẳng – bọn trẻ vây quanh con gái tôi, giơ tay ra đòi chơi những đồ chơi chúng vừa tặng con gái tôi, còn con gái tôi thì cương quyết từ chối. Tôi tự bảo: “Mình sẽ dạy con mình biết chia sẻ. Giá trị của chia sẻ là một trong những điều cơ bản nhất mình tin tưởng”.

Cho nên, trước tiên, tôi chỉ đơn giản yêu cầu: “Nào con yêu, cho các bạn chơi những đồ chơi các bạn vừa mới tặng con với”.

“Không”. Cháu lạnh lùng trả lời.

Cách thứ hai của tôi là dùng một ít lý luận: “Con thân yêu, nếu con cho các bạn chơi đồ chơi khi các bạn đến nhà thì các bạn sẽ cho con chơi đồ chơi khi con đến nhà các bạn”.

Cháu lập tức trả lời: “Không”.

Tôi có phần nào lúng túng. Rõ ràng tôi không có ảnh hưởng đối với cháu. Phương pháp thứ ba là đút lót. Rất nhẹ nhàng, tôi bảo cháu: “Con ơi, nếu con cho các bạn chơi cùng, bố sẽ cho con cái này thật tuyệt vời. Bố cho con kẹo gôm nhé”.

“Con không thích kẹo gôm”.

Bây giờ thì tôi nổi cáu. Lần thứ tư, tôi dọa cho nó sợ: “Nếu con không cho các bạn chơi, con sẽ bị phạt đấy”.

“Con không cần”. Cháu bật khóc. “Những thứ này là của con. Con không cho ai chơi cùng cả!”.

Sau cùng, tôi phải dùng đến sức mạnh. Tôi lấy mấy đồ chơi và đem cho những cháu bé khác. “Đây, các cháu chơi đi”.

Có lẽ con gái tôi cần được quyền sở hữu đồ vật trước khi đem cho. ( Thật vậy, chỉ khi tôi có một cái gì, tôi mới đem cho được chứ?). Cháu cần tôi, là bố cháu, đã chín chắn về mặt tình cảm ở trình độ cao, cho cháu sự thể nghiệm đó.

Nhưng lúc đó, tôi coi trọng dư luận của các bậc cha mẹ kia đối với tôi hơn là sự sinh trưởng và phát triển của con tôi và quan hệ giữa chúng tôi. Tôi chỉ suy nghĩ đơn giản là tôi đúng; cháu phải chia đồ chơi cho các bạn, không làm thế là có lỗi.

Có lẽ tôi đã đặt sự mong đợi ở cháu ở nấc thang cao hơn, đơn giản chỉ vì tôi ở nấc thang thấp hơn. Tôi không thể hoặc không vui lòng chịu kiên nhẫn hoặc chịu hiểu, cho nên tôi mong cháu đem cho đồ vật. Trong một mưu đồ để bù vào sự bất tài của tôi, tôi đã mượn sức mạnh của vị trí và quyền lực làm bố bắt cháu phải làm cái mà tôi muốn cháu làm.

Nhưng vay mượn sức mạnh là tạo nên sự yếu đuối. Nó tạo nên sự yếu đuối trong người đi vay bởi vì nó củng cố sự phụ thuộc vào những tác nhân bên ngoài để làm được việc. Nó tạo nên sự yếu đuối trong con người bắt buộc phải phục tùng bằng cách ngăn chặn sự phát triển của cách suy nghĩ độc lập, sự tăng trưởng và kỷ luật nội tại. Và sau cùng, nó tạo nên sự yếu đuối trong quan hệ. Sự sợ hãi thế chỗ cho sự hợp tác, và cả hai người càng trở nên độc đoán và bảo thủ.

Và cái gì sẽ xảy ra khi nguồn sức mạnh vay mượn – to lớn hơn hoặc khỏe hơn, địa vị, quyền lực, sự ủy quyền, các điều khoản của quy chế, bề ngoài hoặc thành tích quá khứ – thay đổi hoặc không duy trì thêm được.

Nếu tôi chín chắn hơn, tôi đã dựa vào sức mạnh thực chất của mình – sự hiểu biết về chia sẻ và phát triển và khả năng yêu thương, nuôi dưỡng cháu – cho phép con gái tôi tự do chia sẻ đồ chơi hoặc không chia. Có lẽ sau khi đã thử dùng lý lẽ với cháu, tôi nên chuyển sự chú ý của bọn trẻ sang một trò chơi thú vị khác, làm cho con tôi mất sức ép tâm lý đó. Tôi đã từng giảng rằng một khi bọn trẻ có ý thức về sở hữu thực sự, thì chúng chia sẻ hết sức tự nhiên, tự nguyện và tự phát.

Kinh nghiệm của tôi là có những lúc dạy và có những lúc không nên dạy. Khi quan hệ căng thẳng và không khí đầy xúc động, thì sự mưu toan giảng dạy thường bị coi là một hình thức phê phán hoặc không chấp nhận. Nhưng nếu lặng lẽ đưa cháu ra một nơi khác, khi quan hệ đã tốt, dạy bảo cháu thì có lẽ tác dụng sẽ lớn hơn nhiều. Có lẽ sự chín chắn về mặt tình cảm để làm được việc đó quá tầm với mức kiên nhẫn và trình độ làm chủ bản thân của tôi lúc đó.

Có lẽ ý thức về sở hữu cần phải đến trước ý thức về chia sẻ thực sự. Nhiều người cho một cách máy móc hoặc từ chối cho và chia sẻ trong hôn nhân và gia đình của họ có lẽ chưa bao giờ trải qua cái gọi là sở hữu bản thân, ý thức về cá tính và giá trị bản thân.

Thực sự giúp đỡ con cái chúng ta trưởng thành thì phải kiên nhẫn để dạy chúng ý thức về sở hữu cũng như phải đủ khôn ngoan để dạy chúng giá trị của việc chúng ta lấy mình làm gương cho chúng.

CÁC CHÚNG TA NHÌN VẤN ĐỀ CHÍNH LÀ VẤN ĐỀ

Người ta phải suy nghĩ khi thấy nhiều việc tốt trong đời sống của những cá nhân, những gia đình và những tổ chức có cơ sở nguyên lý vững chắc. Họ thán phục sức mạnh và sự trưởng thành của những người đó, sự thống nhất, đồng tâm hiệp lực của những gia đình đó, sự hiệp đồng nhịp nhàng của những tổ chức đó.

Và đòi hỏi tức khắc của họ bộc lộ mẫu cơ bản của họ. “Làm cái đó như thế nào? Hãy dạy cho tôi những kỹ năng để làm được như vậy”. Thật ra, họ muốn nói: “Hãy cho tôi vài lời khuyên về những giải pháp nhanh hoặc các giải pháp có thể giảm bớt được khó khăn trong hoàn cảnh hiện nay của tôi”.

Họ sẽ tìm thấy những người đáp ứng yêu cầu của họ, và cho họ những điều đó. Sau một thời gian ngắn, kỹ năng kỹ xảo sẽ xuất hiện. Họ có thể loại bỏ một số vấn đề hời hợt hoặc gay cấn bằng băng dính và thuốc cảm xã hội.

Nhưng những điều cơ bản lưu cữu vẫn còn và một lúc nào đó các triệu chứng gay gắt lại xuất hiện. Người ta càng sử dụng những giải pháp nhanh, càng tập trung vào các vấn đề gay cấn thì tiếp cận đó càng tăng thêm điều kiện cơ bản thâm căn cố đế.

Cách chúng ta nhìn vấn đề chính là vấn đề.

Hãy nhìn lại một số vấn đề mà chúng ta đã quan tâm đem vào chương này và xem xét ảnh hưởng của những ý kiến về Đạo đức Nhân cách.

Tôi mở hết lớp này đến lớp khác huấn luyện phương pháp quản lý có hiệu quả. Tôi hy vọng rất nhiều ở những người làm công cho tôi và tôi tích cực gần gũi họ. Nhưng tôi không hề thấy trong họ mảy may sự trung thành đối với tôi. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó tôi ốm nằm nhà, thì họ sẽ giành phần lớn thời gian tán gẫu bên máy tính. Tại sao tôi không thể dạy họ có tính độc lập và có trách nhiệm, hoặc tại sao tôi không lại không tìm những người khác có những đức tính đó?

Đạo đức Nhân cách bảo tôi rằng tôi nên làm một cái gì đó gây ấn tượng sâu sắc – khuấy động sự việc lên, xiết chặt kỷ luật – để cho những người làm công của tôi vào khuôn phép và đánh giá đúng những gì họ đang có. Hoặc tôi tìm một chương trình huấn luyện nào đó hấp dẫn hơn để làm cho họ gắn bó. Hoặc tôi nên thuê những người khác có thể làm việc tốt hơn.

Nhưng trong vấn đề những người làm công này, tôi có thực sự hành động vì lợi ích tốt nhất của họ không? Họ có cảm thấy tôi đối xử với họ như những cỗ máy không? Tôi có phần nào đúng không?

Trong thâm tâm, có thật đây là cách tôi nhận xét họ không? Có khả năng cách tôi nhìn những người khác làm việc cho tôi là một bộ phận của vấn đề không?

Có quá nhiều việc phải làm và không bao giờ có đủ thời gian. Tôi cảm thấy bị thôi thúc và làm việc bận rộn suốt ngày, ngày nào cũng vậy, bảy ngày trong tuần. Tôi dự các cuộc hội thảo về quản lý thời gian và đã áp dụng thử có đến nửa tá hệ thống lập kế hoạch khác nhau, chúng cũng giúp tôi được phần nào, nhưng tôi vẫn không cảm thấy sống hạnh phúc, làm được việc và yên bình như mong muốn.

Đạo đức Nhân cách mách tôi phải có một cái gì đó bên ngoài – một người lập kế hoạch mới nào đó hoặc cuộc hội thảo nào đó – giúp tôi thoát khỏi sức ép có hiệu quả.

Nhưng liệu những hiệu quả đó có phải là một đáp án không? Có thể làm được nhiều việc với ít thời gian hơn không hay lại đẩy tôi nhanh đến chỗ phản ứng với những con người và hoàn cảnh hình như đang chi phối cuộc đời tôi?

Có thể có một cái gì đó mà tôi cần xem xét một cách sâu sắc hơn, cơ bản hơn – một mẫu nào đó ở trong tôi, ảnh hưởng đến cách tôi nhìn thời gian – cuộc đời của tôi và bản chất của tôi không?

Cuộc hôn nhân của chúng tôi thật tẻ nhạt. Chúng tôi không xung đột với nhau hoặc làm cái gì khác; chỉ là chúng tôi không yêu nhau. Chúng tôi đã bàn bạc với nhau, thử làm một số việc nhưng không thể nào nhen nhóm lại tình cảm đã có trước đây.

Đạo đức Nhân cách bảo tôi rằng phải có một quyển sách mới nào đó hoặc một cuộc thảo luận nào đó để giúp vợ tôi hiểu tôi hơn. Hay những cái đó là vô ích mà chỉ có một quan hệ mới mới đưa lại cho tôi tình yêu mà tôi cần.

Nhưng có thể vấn đề thật lại không phải ở vợ tôi thì sao? Tôi có thể làm cho vợ tôi không yếu đuối nữa và làm cho cuộc sống của tôi phụ thuộc vào cách vợ tôi đối xử với tôi không?

Tôi có một mẫu cơ bản nào đó về vợ tôi, về hôn nhân, về tình yêu thực sự đang chi phối vấn đề không?

Bạn có thấy các mẫu của Đạo đức Nhân cách đến cách chúng ta nhìn nhận các vấn đề của chúng ta cũng như cách chúng ta giải quyết các vấn đề đó cơ bản đến mức nào không?

Dù người ta có thấy nó hay không, nhiều người đã vỡ mộng vì lời hứa trống rỗng của Đạo đức Nhân cách. Tôi đã đi khắp nước, làm việc với các tổ chức, tôi phát hiện ra rằng những ủy viên ban quản trị có tầm suy nghĩ dài hơn thường đánh lạc hướng vấn đề bằng những đòn tâm lý và những người tiếp chuyện “đãi khách” không có gì nói ngoài câu chuyện làm quà nhạt nhẽo pha lẫn nhàm chán.

Người ta cần thực chất. Người ta cần quá trình. Người ta cần nhiều hơn là thuốc cảm và băng dính. Người ta muốn giải quyết các vấn đề cơ bản tồn đọng lâu ngày và tập trung vào các nguyên lý đem lại kết quả lâu dài.

MỘT TRÌNH ĐỘ SUY NGHĨ MỚI

Albert Einstein nhận xét: “Những vấn đề quan trọng mà chúng ta đang phải đối phó không thể giải quyết ở trình độ suy nghĩ lúc chúng ta sáng tạo ra chúng”.

Khi chúng ta nhìn quanh ta và trong ta và nhận ra các vấn đề được phát sinh lúc chúng ta sống và tác động qua lại bên trong Đạo đức Nhân cách, chúng ta bắt đầu nhận rõ rằng chúng là những vấn đề sâu xa, cơ bản không thể giải quyết được ở trình độ nông cạn lúc nó phát sinh.

Chúng ta cần một trình độ suy nghĩ mới, sâu hơn – một mẫu dựa trên các nguyên lý miêu tả chính xác lĩnh vực tồn tại và hoạt động có hiệu quả của con người – để giải quyết những vấn đề sâu xa này.

Mức suy nghĩ mới này là tất cả những vấn đề về Bảy thói quen của những người thành đạt; đó là tiếp cận hiệu quả của cá nhân và giữa cá nhân với nhau, lấy nguyên lý làm trung tâm, lấy tính cách làm cơ sở, tác động từ trong ra ngoài.

Từ trong ra ngoài có nghĩa là trước hết bắt đầu với bản thân; cơ bản hơn là bắt đầu với phần bên trong nhất của bản thân – với mẫu của bạn, với tính cách của bạn, với động cơ của bạn.

Nó bảo rằng nếu bạn muốn có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, bạn hãy loại người tạo ra nghị lực tích cực và tránh nghị lực tiêu cực hơn là tạo ra quyền lực. Nếu bạn muốn những đứa con dễ thương hơn, dễ bảo hơn thì bạn hãy người bố mẹ hiểu con cái hơn, kiên định hơn, tình cảm hơn. Nếu bạn muốn có nhiều quyền tự quyết hơn, quyền hạn rộng rãi hơn trong công việc thì bạn hãy là người làm công có trách nhiệm hơn, giúp ích được nhiều hơn, cống hiến được nhiều hơn. Nếu bạn muốn được tin cậy, bạn phải đáng tin cậy. Nếu bạn muốn cái cao cả thứ yếu là tài năng được thừa nhận thì trước hết bạn phải tập trung vào cái cao cả chủ yếu là tính cách.

Tiếp cận “từ trong ra ngoải” tức là các thắng lợi riêng tư đi trước các thắng lợi công cộng, hứa và giữ lời hứa với mình đi trước hứa và giữ lời hứa với người khác. Nó nói lên rằng đẩy nhân cách lên trước tính cách là vô ích, cải thiện quan hệ với người khác trước khi cải thiện bản thân là không có hiệu quả.

Từ trong ra ngoài là một quá trình – một quá trình liên tục của sự tái sinh dựa trên các quy luật chi phối sự sinh trưởng và phát triển của con người. Nó là một vòng xoáy ốc đi lên của sự sinh trưởng dẫn đến những hình thức càng ngày càng cao của sự độc lập có trách nhiệm và sự tùy thuộc lẫn nhau có hiệu quả.

Tôi đã có dịp làm việc với nhiều người – những người khác thường, những người có tài, những người mong muốn sâu sắc đạt được hạnh phúc và thành công, những người đang mày mò, những người đang vấp váp. Tôi đã làm việc những người điều hành kinh doanh, những sinh viên đại học, các giáo phái và công dân, gia đình và vợ chồng. Và trong tất cả những gì tôi đã trải qua, tôi chưa bao giờ thấy những giải pháp vững chắc cho các vấn đề, hạnh phúc và thành quả lâu bền đến từ ngoài vào trong.

Kết quả của mẫu đến từ ngoài vào trong mà tôi thấy là những người bất hạnh, cảm thấy mình là nạn nhân, bị vô hiệu hóa. Họ đã tập trung vào những yếu kém của những người khác và vào những tình huống mà họ cho là phải chịu trách nhiệm về tình trạng đình đốn của bản thân họ. Tôi đã thấy những cuộc hôn nhân không hạnh phúc trong đó cả hai người đều muốn người kia thay đổi, ai cũng cho là người kia có “tội”, ai cũng muốn uốn nắn người kia. Tôi đã thấy những tranh cãi trong quản lý lao động trong đó người ta mất quá nhiều thời gian và công sức để tạo ra luật lệ bắt người ta làm việc, cứ như nền tảng của sự tín nhiệm thực sự là ở đó.

Các thành viên của gia đình chúng tôi đã sống ở ba điểm “nóng nhất” trên trái đất này – Nam Phi, Ixraen và Airơlen – và tôi tin rằng nguồn gốc của các vấn đề dai dẳng ở mỗi nơi này là mẫu xã hội nổi trội từ ngoài vào trong. Các nhóm hữu quan đều tin chắc rằng vấn đề là “ở bên ngoài” và “họ” (tức là phía bên kia) chịu vào khuôn phép hoặc bỗng nhiên “rút khỏi” tình trạng hiện tại thì vấn đề sẽ được giải quyết.

Từ ngoài vào trong là một hoán vị mẫu quan trọng cho đa số người, phần lớn là do tác động mạnh mẽ của việc tạo ra điều kiện và do mẫu xã hội đang lưu hành của Đạo đức Nhân cách.

Nhưng từ kinh nghiệm của bản thân – cả của tôi và khi làm việc, với hàng ngàn người khác – và sự nghiên cứu cẩn thận những cá nhân và tổ chức đã thành công trong lịch sử, tôi tin rằng nhiều nguyên lý được thể hiện trong Bảy thói quen đã ăn sâu vào trong chúng ta, trong lương tâm của chúng ta và trong ý thức thông thường của chúng ta. Để thừa nhận và phát triển chúng và để sử dụng chúng trong việc đáp ứng những quan tâm sâu xa nhất của chúng ta, chúng ta cần suy nghĩ một cách khác, hoán vị các mẫu của chúng ta đến một trình độ mới, ở mức độ “từ trong ra ngoài”.

Khi thành tâm tìm hiểu và lồng ghép những nguyên lý này vào cuộc sống của chúng ta, tôi tin rằng chúng ta sẽ phát hiện và tái phát hiện chân lý trong nhận xét của T.S Eliot

Chúng ta không được ngừng tìm kiếm và mục đích của mọi cuộc tìm kiếm của chúng ta là để đi đến nơi chúng ta đã bắt đầu và biết được vị trí khi xuất phát.

Advertisements