PHẢI TÍCH CỰC

CÁC NGUYÊN LÝ VỀ SỰ TƯỞNG TƯỢNG CỦA CÁ NHÂN

Không gì có tác dụng cổ vũ bằng khả năng chắc chắn của con người để nâng cao đời sống của mình bằng những cố gắng có ý thức.

HENRY DAVID THOREAU

Khi đọc cuốn sách này, bạn hãy cố gắng đứng ngoài bản thân bạn. Thử chiếu ý thức của bạn lên một góc phòng và bằng con mắt của tâm trí, bạn hãy nhìn mình đang đọc. Bạn có thể nhìn mình như nhìn người khác không?

Bây giờ hãy thử một cái khác. Hãy suy nghĩ về tâm trạng của bạn lúc này. Bạn có thể xác định được nó hay không? Bạn đang cảm thấy gì? Bạn sẽ mô tả tâm trạng của bạn lúc này ra sao?

Bây giờ hãy suy nghĩ một phút về trí óc của bạn đang làm việc như thế nào. Có nhanh nhẹn sắc bén không? Bạn có thấy mình đang bị giằng co giữa hoạt động trí tuệ mà bạn đang làm và việc tính toán rút ra vấn đề gì từ hoạt động trí tuệ đó không?

Khả năng làm cái việc bạn đang làm đó chỉ có con người mới có. Con vật không có khả năng đó. Chúng ta gọi nó là sự “tự nhận thức” hoặc khả năng suy nghĩ về quá trình tư duy đích thực của bạn. Đây là lý do vì sao con người có quyền thống trị muôn vật trên trái đất và tại sao nó có thể tiến bộ từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Đây là lý do tại sao ta có thể học tập và đánh giá kinh nghiệm của người khác cũng như của bản thân. Đây cũng là tại sao chúng ta có thể tập được thói quen và từ bỏ được thói quen của chúng ta.

Chúng ta không phải là cảm giác của chúng ta. Chúng ta không phải là tâm trạng của chúng ta. Chúng ta càng không phải là ý nghĩ của chúng ta. Việc chúng ta có thể suy nghĩ về những cái đó tách chúng ta khỏi giới động vật. Tự nhận thức cho chúng ta khả năng đứng riêng ra để xem xét cách chúng ta “nhìn thấy” chúng ta – mẫu tự nhiên của chúng ta, mẫu cơ bản nhất của chúng ta – mà cả cách chúng ta nhìn thấy người khác như thế nào. Nó trở thành bản đồ về tính chất cơ bản của loài người của chúng ta.

Trên thực tế, khi chúng ta chứa quan tâm đến việc chúng ta nhìn thấy chúng ta như thế nào (và nhìn thấy người khác như thế nào) thì chúng ta không thể hiểu được người khác nhìn thấy họ và cảm nhận về họ và thế giới của họ ra sao. Một cách không ý thức, chúng ta xem xét hành vi của họ theo chủ quan của ta mà cứ ngỡ là chúng ta khách quan.

Điều này hạn chế rất nhiều tiềm năng của cá nhân cũng như khả năng quan hệ với người khác của chúng ta. Nhưng vì chỉ có con người mới có khả năng tự nhận thức, chúng ta có thể xem xét các mẫu của chúng ta để xác định xem chúng là thực tại – hoặc có cơ sở nguyên lý – hay chúng phụ thuộc vào việc xác lập điều kiện và hoàn cảnh.

TẤM GƯƠNG XÃ HỘI

Nếu chúng ta chỉ có những hình ảnh về chúng ta từ tấm gương xã hội – từ mẫu xã hội hiện hành, từ dư luận, nhận thức và mẫu người khác quanh chúng ta – thì chúng ta chẳng khác gì những hình ảnh phản chiếu trong phòng cưới ngày lễ hóa trang.

“Bạn không bao giờ đúng giờ cả”

“Tại sao bạn không sắp xếp đồ đạc có trật tự được?”

“Bạn phải là một nghệ sĩ”

“Bạn ăn như ngựa”

“Tôi tin bạn thắng!”

“Thật đơn giản, thế mà bạn không hiểu ư?”

Những hình ảnh này rời rạc và không cân đối. Chúng thường là những hình chiếu hơn là hình phản chiếu, chiếu nỗi lo âu và sự yếu đuối của tính cách con người đứng trước gương hơn là phản chiếu chính xác bản chất của con người đó!.

Sự phản chiếu của mẫu xã hội hiện hành khẳng định rằng việc xác lập điều kiện và hoàn cảnh thường có vai trò quyết định đối với chúng ta. Trong khi thừa nhận sức mạnh ghê gớm của việc xác lập điều kiện trong cuộc sống của chúng ta, tức là chúng ta đã thừa nhận rằng nó quyết định chúng ta, rằng chúng ta không làm chủ được ảnh hưởng này. Do một bản đồ hoàn toàn khác tạo ra.

Hiện có ba bản đồ xã hội – ba học thuyết về quyết định luận được xã hội chấp nhận rộng rãi, độc lập hoặc kết hợp, để giải thích bản thân của con người. Thuyết di truyền quyết định cơ bản nói rằng ông bà bạn đã gây ra cái đó cho bạn. Do đó tại sao tính tình bạn lại như vậy. Ông bà bạn hay cáu gắt. Tính hay cáu gắt đó ở trong DNA của bạn. Nó sẽ di truyền từ đời này sang đời khác và bạn kế thừa. Thêm vào đó, bạn là người Aixơlen, đó là bản chất của dân tộc Aixơlen.

Thuyết tâm thần quyết định cơ bản nói rằng bố mẹ bạn đã gây ra cái đó cho bạn. Sự giáo dục, những việc xảy ra trong thời niên thiếu đã sắp xếp một cách cơ bản những xu hướng cá nhân của bạn và cấu trúc tính cách của bạn. Vì vậy, tại sao bạn sợ đứng trước một nhóm người. Vì đó là cách bố mẹ bạn giáo dục cho bạn. Bạn cảm thấy hết sức tội lỗi khi bạn phạm một sai lầm bởi vì bạn “nhớ lại” cái cảm giác nguyên bản ở sâu trong tiềm thức của bạn khi bạn còn rất yếu đuối, rất thơ ngây và phụ thuộc. Bạn nhớ lại sự trừng phạt, sự chối bỏ, hoặc so sánh với đó khi bạn không thực hiện điều gì.

Thuyết môi trường quyết định cơ bản nói rằng ông chủ của bạn đang gây ra cái đó cho bạn – hoặc là vợ bạn, hoặc thằng con bạn, hoặc hoàn cảnh kinh tế của bạn, hoặc chính sách của nhà nước. Ai đó hoặc cái gì đó quanh bạn chịu trách nhiệm về tình trạng của bạn. Mỗi bản đồ này dựa trên lý thuyết tác nhân kích thích / sự phản ứng mà chúng ta thường hay nhắc đến các thí nghiệm của Páplôp với con chó.

Tư tưởng cơ bản là chúng ta đã được tạo điều kiện để phản ứng lại một tác nhân kích thích nào đó bằng một cách đặc biệt nào đó.

Những bản đồ quyết định này miêu tả lãnh thổ một cách chính xác và đúng chức năng như thế nào? Những tấm gương này phản ánh rõ ràng bản chất thật của con người ra sao? Chúng có thể trở thành những điều tiên đoán tự hoàn thiện hay không? Chúng có dựa trên những nguyên lý mà chúng ta có thể làm cho bản thân chúng ta có giá trị không?

GIỮA TÁC NHÂN KÍCH THÍCH VÀ SỰ PHẢN ỨNG

Để trả lời những câu hỏi này, cho phép tôi chia sẻ với các bạn câu chuyện có tác dụng xúc tác của Vitctor Frankl.

Frankl là một nhà quyết định học nổi bật trong truyền thống của tâm lý học Freud. Học thuyết này nêu lên định đề rằng bất kì cái gì xảy ra cho bạn lúc còn bé đều hình thành tính cách và nhân cách của bạn và chi phối về cơ bản suốt đời của bạn. Các giới hạn và các thông số của cuộc đời bạn đã được xác định, về cơ bản, bạn không thể làm gì nhiều hơn.

Frankl cũng là một nhà tâm thần học và là một người Do Thái. Ông bị giam trong các trại tập trung của Đức quốc xã. Ông đã trải qua những điều ghê tởm đến nỗi chúng ta phải rùng mình khi nhắc lại.

Bố mẹ, anh em và vợ ông chết trong trại hoặc trong các lò hơi ngạt. Ngoài chị ông ra, cả nhà ông đều bị giết hại. Bản thân Frankl bị tra tấn và phải chịu vô số điều sỉ nhục, không biết rằng con đường của ông có dẫn ông đến nhà thiêu xác không hay là ông ở trong số những người “dành” để khiêng xác và xúc tro của những không thoát khỏi định mệnh.

Một hôm, trần truồng một mình trong căn phòng nhỏ ông bỗng nhận thức được cái mà ông gọi là “sự tự do cuối cùng của con người” – sự tự do mà bọn Đức quốc xã không thể tước đoại được. Chúng có thể kiểm tra toàn bộ hoàn cảnh quanh ông, chúng có thể làm bất cứ cái gì chúng muốn với cơ thể ông, nhưng bản thân Frankl là một sinh vật tự nhận thức vẫn có thể nhìn vào hoàn cảnh khốn quẫn thật sự của mình như một nhà quan sát. Cá tính cơ bản của ông vẫn nguyên vẹn. Ông vẫn có thể tự quyết định trong thâm tâm tất cả những cái này tác động lên ông như thế nào. Giữa cái xảy ra với ông, hay tác nhân kích thích, và phản ứng của ông đối với cái đó, là sự tự do hoặc là khả năng lựa chọn phản ứng đó.

Trong lúc những sự việc xảy ra, Frankl đặt mình vào những hoàn cảnh khác, như đang dạy cho sinh viên sau khi được ra khỏi trại. Ông tưởng tượng mình đang ở trong lớp học và đang giảng cho học sinh mình những bài học mà ông đã học được trong khi bị hành hạ tra tấn.

Qua một loạt rèn luyện trí óc như vậy, trí tuệ, tình cảm đạo đức, chủ yếu là bằng trí nhớ và tưởng tượng, ông rèn luyện chút tự do nhỏ nhoi, phôi thai, cho đến khi nó lớn lên, lớn mãi, cho đến khi ông cảm thấy mình được tự do hơn cả bọn quốc xã bắt ông. Chúng có nhiều tự do hơn, nhiều cơ hội hơn để lựa chọn trong môi trường của chúng. Nhưng ông tự do hơn, có nhiều năng lực nội tại hơn để rèn luyện quyền lựa chọn của mình. Ông đã trở thành người truyền cảm cho những người quanh ông, kể cả mấy tên lính gác. Ông giúp những người khác tìm ý nghĩa trong sự đau đớn và nhân phẩm trong cuộc sống lao tù.

Giữa những hoàn cảnh tồi tệ nhất có thể tưởng tượng được, Frankl đã sử dụng thiên tư của con người về sự tự nhận thức để phát hiện ra một nguyên lý cơ bản của bản chất con người: Giữa tác nhân kích thích và phản ứng, con người có sự tự do lựa chọn.

Trong sự tự do lựa chọn là những thiên tư làm cho chúng ta duy nhất có tính người. Thêm vào sự tự nhận thức chúng ta có trí tưởng tượng – khả năng sáng tạo trong trí óc ta qua thực tế. Chúng ta có lương tâm – sự hiểu biết trong sâu xa về cái đúng và cái sai, về các nguyên lý chi phối hành vi của chúng ta, và ý thức về trình độ mà suy nghĩ và hành động của chúng ta, hòa hợp được với chúng. Chúng ta còn có ý chí độc lập – khả năng hành động dựa trên sự tự nhận thức của chúng ta, không chịu ảnh hưởng của con người khác.

Ngay cả những vật thông minh nhất cũng không có những thiên tư này. Ví dụ như một máy tính, chúng được chương trình hóa bằng bản năng hoặc / và bằng huấn luyện. Chúng có thể được huấn luyện thành có trách nhiệm, nhưng chúng không thể có trách nhiệm đối với sự huấn luyện; nói cách khác, chúng không thể chỉ huy được sự huấn luyện. Chúng không thể thay đổi được việc chương trình hóa. Chúng không nhận thức được cả những việc đó.

Còn chúng ta, chúng ta có những thiên tư riêng của loài người, chúng ta có thể viết được những chương trình mới cho chúng ta, hoàn toàn tách khỏi bản năng và sự huất luyện. Đây là tại sao khả năng của con vật là tương đối hữu hạn mà của con người là vô hạn. Nhưng nếu chúng ta sống như những con vật, bằng bản năng của mình, được xác lập do điều kiện và hoàn cảnh, do trí nhớ tập thể của chúng ta, thì chúng ta cũng bị hạn chế.

Mẫu của quyết định luận trước hết là kết quả nghiên cứu những con vật – chuột, khỉ, chim bồ câu, chó – những người loạn thần kinh chức năng và những người bị bệnh tâm thần. Trong khi điều này có thể đáp ứng một số tiêu chuẩn của những nhà nghiên cứu bởi vì hình như nó đo đếm và dự đoán được, thì lịch sử nhân loại và sự tự nhận thức của chúng ta nói với chúng ta, rằng bản đồ này không mô tả đúng lãnh thổ tí nào cả.

Thiên tư của chúng ta, mà chỉ có con người mới có, nâng cao chúng ta lên trên thế giới loài vật. Qui mô chúng ta rèn luyện và phát triển những thiên tư này làm cho ta có khả năng thực hiện được tiềm lực riêng của con người. Giữa tác nhân kích thích và phản ứng là quyền lực lớn nhất của chúng ta – sự tự do lựa chọn.

ĐỊNH NGHĨA “TÍNH TÍCH CỰC”

Khi phát hiện nguyên lý cơ bản về bản chất con người, Frankl mô tả một bản đồ bản thân chính xác. Từ bản đồ này, ông phát triển thói quen đầu tiên và cơ bản nhất của con người thành đạt trong mọi môi trường, đó là thói quen của tính tích cực.

Trong khi từ tính tích cực ngày nay đã khá phổ biến trong các tài liệu quản lý thì nó là một từ mà bạn không tìm thấy trong phần lớn các từ điển. Nó không đơn thuần có nghĩa là dẫn đầu. Nó có nghĩa là chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân mình vì chúng ta là những con người. Hành vi phụ thuộc vào những quyết định của chúng ta chứ không phải vào hoàn cảnh. Chúng ta có thể làm cho cảm tính lệ thuộc vào giá trị. Chúng ta có sáng kiến và trách nhiệm làm cho sự việc xảy ra.

MÔ HÌNH TÍCH CỰC

Hãy nhìn chữ Responsibility (trách nhiệm). Nó gồm response (phản ứng) và ability (khả năng). Vậy trách nhiệm là khả năng chọn phản ứng. Những người tích cực cao thừa nhận trách nhiệm đó. Họ không lên án hoàn cảnh, tình huống hoặc một tác động ngoại lai nào đối với hành vi của họ. Hành vi của họ là sản phẩm của hoàn cảnh dựa trên cảm tính.

Bởi vì chúng ta là tích cực về mặt bản chất, nên nếu cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào việc xác lập điều kiện và hoàn cảnh thì là vì, bằng những quyết định có ý thức hoặc do sơ hở, chúng ta đã trao quyền cho những cái đó làm chủ chúng ta.

Bằng sự lựa chọn này, chúng ta trở nên thụ động. Những người thụ động thường chịu ảnh hưởng của môi trường vật chất. Nếu thời tiết tốt, họ cảm thấy thoải mái. Nếu thời tiết không tốt, nó ảnh hưởng đến thái độ và thành tích của họ. Người tích cực có thể thắng được thời tiết. Mưa hay nắng chẳng có gì khác nhau đối với họ. Họ được điều khiển bằng giá trị. Nếu giá trị của họ là để làm ra những sản phẩm có chất lượng tốt thì thời có lợi hay không cũng không quan hệ.

Những người thụ động cũng bị ảnh hưởng của môi trường xã hội, của “thời tiết xã hội”. Khi người ta đối xử tốt với họ, họ cảm thấy thoải mái. Khi người ta đối xử không tốt, họ phòng ngự. Người thụ động xây dựng cuộc sống tình cảm của họ quanh hành vi của người khác, làm cho nhược điểm của người khác mạnh lên để chi phối họ. Khả năng chỉ phụ thuộc vào sức đẩy đến giá trị là bản chất của người tích cực. Người thụ động bị cảm tính, hoàn cảnh, điều kiện, môi trường điều khiển. Người tích cực do giá trị – những giá trị được suy nghĩ kỹ, chọn lọc và biến thành của bản thân – chi phối.

Người tích cực cũng chịu tác động của những tác nhân kích thích bên ngoài bất kỳ là vật chất, xã hội hay tâm lý. Nhưng sự phản ứng của họ, có ý thức hoặc vô ý thức, là sự chọn lựa hoặc phản ứng dựa trên giá trị.

Như Eleanor Roosevelt đã nhận xét: “Không ai làm tổn thương anh được nếu không có sự thỏa thuận của anh”. Và nói như Gandhi: “Không ai làm ta mất lòng tự tôn nếu ta không đem nó đi cho”. Chính chúng ta tự nguyện, cho phép, bằng lòng để cho những cái đó xảy đến, chúng làm chúng ta bị tổn thương hơn những cái xảy đến lúc đầu.

Tôi công nhận cái đó thật là khó chấp nhận một cách có tình cảm, đặc biệt nếu năm này qua năm khác, chúng ta giải thích những điều bất hạnh của chúng ta là do hoàn cảnh và hành vi của những người khác. Một người không thể nói “Tôi chọn cách khác” cho đến khi người đó có thể nói sâu sắc và thảnh thật rằng: “Sở dĩ tôi như ngày nay là vì hôm qua tôi đã chọn như vậy”.

Một lần ở Sacramento, trong một buổi nói về tính tích cực, một nữ thính giả đứng dậy lúc tôi đang giới thiệu, và bắt đầu nói sôi nổi. Thính giả rất đông, và khi một người quay lại nhìn bà ta, bà ta bỗng nhận thức được mình đang làm gì, lúng túng ngồi xuống. Nhưng hình như bà ta không thể tự kiềm chế được và lại nói chuyện với những người quanh bà ta. Bà ta có vẻ rất vui.

Tôi nóng ruột chờ giờ giải lao để tìm hiểu việc gì xảy ra. Lúc giờ nghỉ đến, tôi đến ngay chỗ bà ta và hỏi bà ta có vui lòng kể cho tôi nghe.

“Ông không thể tưởng tượng nổi việc gì đã xảy ra với tôi”. Bà ta kêu lên. “Tôi làm vú em cho một gia đình tồi tệ nhất, vô ơn nhất mà ông có thể tưởng tượng được. Tôi làm tốt mấy cũng không vừa ý lão chủ. Lão không bao giờ khen tôi. Lão còn đối xử tệ với tôi. Lão lúc nào cũng lải nhải, bới lông tìm vết những việc tôi làm. Lão làm cho đời tôi khổ sở và tôi thường trút tâm trạng chán nản lên gia đình tôi. Những người vú khác cũng thấy như vậy. Chúng tôi cầu cho lão chết quách đi”.

“Thế mà ông nói không có gì có thể xúc phạm được tôi, không ai có thể xúc phạm được tôi, nếu tôi không cho phép, và tôi đã chọn cho tôi một cuộc sống tình cảm khốn khổ. Vâng, tôi không có cách nào khác”.

“Nhưng tôi vẫn cứ suy nghĩ về điều đó. Tôi thực sự đi vào nội tâm và tự hỏi: Tôi có khả năng chọn phản ứng không?”.

“Khi tôi nhận ra rằng tôi có khả năng đó, khi tôi phải ngậm cay nuốt đắng nhận ra rằng tôi đã chọn lựa cho mình nỗi cơ cực đó thì tôi cũng nhận thức được rằng tôi có thể chọn cho mình cuộc sống không cơ cực”.

“Lúc tôi đứng dậy. Tôi cảm thấy dường như tôi thoát khỏi San Quentin. Tôi muốn hét lên cho cả thế giới nghe thấy: Tôi được tự do! Tôi đã ra khỏi lao tù! Tôi không bị ai khống chế nữa!”.

Không phải cái xảy ra mà là sự phản ứng lại cái xảy ra với chúng ta làm tổn thương chúng ta. Tóm lại, sự vật có thể xảy ra và có thể gây cho ta nỗi buồn phiền. Nhưng tính cách của chúng ta, cá tính cơ bản của chúng ta thì không hề bị tổn thương. Trên thực tế những điều chúng ta đã trải qua trở thành lò luyện thép tôi luyện tính cách của chúng ta và phát triển sức mạnh nội tại, sự tự do để xử trí trong những trường hợp khó khăn trong tương lai và truyền cho người khác cảm hứng làm như vậy.

Frankl là một trong nhiều người có khả năng phát triển tự do cá nhân trong những hoàn cảnh khó khăn để nâng đỡ, khuyến khích người khác. Những câu chuyện tự thuật của tù binh Việt Nam cung cấp thêm những bằng chứng có sức thuyết phục về khả năng cải tạo của tự do cá nhân và sự áp dụng đúng đắn sự tự do đó vào cuộc sống lao tù và tù nhân, lúc ấy cũng như bây giờ.

Chúng ta đều biết có những người trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, có thể ở vào giai đoạn tột cùng của bệnh tật hoặc bị tàn phế mà vẫn giữ được sức mạnh tình cảm tốt đẹp. Không gì gây ấn tượng mạnh mẽ hơn, lâu dài hơn khi thấy ai đó đang chịu đựng đau khổ tột cùng, đang trong hoàn cảnh quá sức chịu đựng, đang là hiện thân và đang thể hiện một giá trị truyền cảm mạnh mẽ, làm cho cuộc sống thểm cao quí và nâng nó lên tầm cao hơn.

Một trong những lần gây xúc động nhất mà tôi và Sandra đã trải qua là thời kỳ bốn năm sống cùng một người bạn thân của chúng tôi tên là Carol, bị bệnh ung thư tàn phá. Bà vốn là một trong những cô phù dâu của Sandra. Họ là những người bạn tốt nhất trong 25 năm nay.

Lúc bệnh tình của Carol đã chuyển sang giai đoạn tột cùng, Sandra luôn ở bên cạnh bà để giúp bà viết tự truyện. Sau mỗi buổi kéo dài và khó khăn ấy, Sandra trở về, hầu như sững sờ khâm phục lòng can đảm và nỗi khát khao của bạn mình khi viết những lời dặn dò đặc biệt để lại cho con cái vào từng giai đoạn của cuộc đời chúng.

Carol phải uống càng ít thuốc giảm đau càng tốt để phát huy đầy đủ năng lực trí tuệ và cảm xúc. Bà thì thào vào một cuốn băng ghi âm hoặc đọc cho Sandra ghi trực tiếp. Carol tích cực, can đảm, quan tâm đến những người khác đến mức bà trở thành một nguồn truyền cảm to lớn cho nhiều người quanh bà.

Tôi không bao giờ quên được lúc tôi nhìn vào cặp mắt Carol, trước khi bà vĩnh biệt chúng tôi và thấy trong sự trong sự đau đớn đến cực độ, một con người có giá trị nội tại kỳ lạ. Tôi có thể thấy trong mắt bà cuộc sống của tính cách, của sự cống hiến và phục vụ cũng như tình yêu, sự quan tâm và sự thận trọng.

Năm tháng trôi qua, nhiều lần tôi hỏi nhiều nhóm người xem có bao nhiêu người đã đứng trước một người sắp chết, người đó vốn có thái độ rất đẹp, một tình yêu và một tấm lòng trắc ẩn lan đến mọi người, đã phục vụ mục đích chính đáng của đời mình bằng những cách không gì so sánh được. Thông thường, một phần tư người nghe trả lời khẳng định. Tôi hỏi tiếp bao nhiêu người không bao giờ quên người đã khuất, bao nhiêu người đã thay đổi, ít nhất tạm thời, nhờ tấm gương can đảm ấy và đã chuyển hướng sâu sắc dẫn đến những hành động cao đẹp của tinh thần tương thân tương ái và lòng trắc ẩn. Cũng những người này đã trả lời là hầu hết đều biến chuyển như vậy.

Victor Frankl gợi ý rằng có ba giá trị trong cuộc sống: giá trị kinh nghiệm hoặc là những gì đã xảy đến với chúng ta; giá trị sáng tạo là cái chúng ta đưa vào cuộc sống; và giá trị thái độ là phản ứng của chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn, thí dụ như thời kỳ cuối của bệnh tật.

Kinh nghiệm bản thân của tôi khẳng định quan điểm của Frankl, trong đó giá trị thái độ là cao nhất với ý nghĩa mẫu hoặc là cấu trúc lại. Nói cách khác, cái có ý nghĩa nhất là chúng ta phản ứng lại những gì chúng ta đã trải qua trong cuộc đời ra sao.

Những hoàn cảnh khó khăn thường tạo ra những hoán vị mẫu, những hệ tham chiếu hoàn toàn mới. Với cơ cấu này, người ta nhìn thế giới và bản thân, nhìn những người khác trong thế giới và những gì cuộc đời đang đòi hỏi họ. Góc nhìn rộng hơn của chúng phản chiếu các giá trị thái độ nâng chúng lên và gây cảm hứng cho tất cả chúng ta.

DẪN ĐẦU

Bản chất của chúng ta là hành động, không phải là làm theo. Điều này cho chúng ta sức mạnh tạo ra tình huống cũng như làm cho chúng ta có khả năng chọn phản ứng cho những tình huống đặc biệt.

Dẫn đầu không có nghĩa là xô đẩy, là gây gổ hoặc hung hăng. Nó có nghĩa là nhận lấy trách nhiệm và làm cho sự việc xảy đến.

Qua nhiều năm, tôi thường khuyên những người muốn có công việc làm ăn tốt hơn tỏ ra chủ động hơn – làm những trắc nghiệm về lợi ích và năng khiếu, nghiên cứu kinh doanh, kể cả những vấn đề đặc biệt mà các tổ chức họ có quan hệ đang gặp phải, và sau đó triển khai một cuộc trình diễn có hiệu quả, tỏ rõ họ có khả năng giải quyết vấn đề của tổ chức như thế nào. Cái này gọi là “bán giải pháp” và là một mẫu cơ bản trong hiệu quả kinh doanh. Phản ứng thường là sự thỏa thuận. Đa số có thể thấy một tiếp cận như vậy tác động mạnh mẽ như thế nào đến cơ hội có việc làm và được đề bạt. Nhưng nhiều người trong số họ đã thất bại ngay khi đi những bước cần thiết.

“Tôi đâu biết đi đâu để làm những trắc nghiệm về lợi ích và năng khiếu!”.

“Tôi nghiên cứu kinh doanh và các vấn đề tổ chức như thế nào? Không ai muốn giúp tôi”.

“Tôi không có một khái niệm nào về một cuộc trình diễn có hiệu quả”.

Nhiều người chờ một cái gì đó xảy đến hoặc một người nào đó quan tâm đến mình. Nhưng những người kiếm được việc làm tốt là những người tích cực. Họ là những giải pháp cho các vấn đề, không phải là bản thân vấn đề. Họ chủ động làm bất cứ cái gì cần thiết, phù hợp với những nguyên lý đúng đắn để công việc được hoàn thành.

Khi một người nào đó trong gia đình của chúng tôi, kể cả cháu bé ít tuổi nhất tỏ ra thiếu trách nhiệm và chờ người khác làm những việc xảy đến hoặc để ra một biện pháp thì chúng tôi bảo: “Hãy sử dụng R và I của anh” (resourcefulness – tài tháo vát, Initiative – sự chủ động). Trên thực tế, thường thường, trước khi chúng tôi nói câu đó thì họ đã đáp lại những lời than phiền của chính họ: “Phải rồi, hãy sử dụng R và I”.

Bắt người ta cư sử có trách nhiệm không phải là vô nghĩa mà là khẳng định. Tính tích cực là một bộ phận của bản chất con người, và dù cho những khả năng tích cực có nằm bất động thì nó vẫn có. Tôn trọng bản thân tích cực của người khác, chúng ta cung cấp cho họ ít nhất một hình ảnh rõ ràng, không méo mó qua tấm gương của xã hội.

Tất nhiên phải tính đến trình độ trưởng thành của cá nhân. Chúng ta không thể chờ đợi được một sự hợp tác có tính chất sáng tạo cao ở những người chìm sâu trong sự phụ thuộc về tình cảm. Nhưng ít nhất chúng ta có thể khẳng định bản chất của họ và tạo ra một bầu không khí trong đó người ta có thể nắm bắt cơ hội và giải quyết các vấn đề một cách tự lực ngày càng tăng.

HÀNH ĐỘNG HAY LÀM THEO

Sự khác nhau giữa những người chủ động và những người không chủ động giống như sự khác nhau giữa ngày và đêm. Tôi không muốn nói đến 20 – 50 phần trăm khác nhau về tính hiệu quả. Tôi nói về 5000 phần trăm sự khác nhau, đặc biệt nếu họ khéo léo, hiểu biết và nhạy cảm đối với những người khác.

Phải chủ động tạo ra sự cân đối P/PC của tính hiệu quả trong cuộc sống của bạn, phải chủ động phát triển Bảy thói quen. Khi nghiên cứu sâu sắc thói quen khác, bạn sẽ thấy mỗi thói quen đều phụ thuộc vào sức mạnh tích cực của bạn. Mội thói quen làm cho bạn có trách nhiệm hành động. Nếu bạn chờ làm theo người khác bạn chắc chắn sẽ bị động.

Có một lần, tôi làm việc với một nhóm người kinh doanh gia công ở trong nước,đại diện cho 20 tổ chức khác nhau, gặp nhau 3 lần để trao đổi về số lượng và các vấn đề của họ một cách thoải mái.

Đang là thời kỳ suy thoái nặng nề và ảnh hưởng tiêu cực đối với nền công nghiệp đặc biệt này còn nặng hơn đối với nền kinh tế chung. Lúc bắt đầu, những người này nản chí.

Ngày đầu, vấn đề thảo luận là: “Cái gì đang xảy ra với chúng ta?” “Tác nhân kích thích là gì?” Nhiều cái đang xảy đến. Sức ép môi trường mạnh. Thất nghiệp tràn lan và nhiều người trong số này đang đuổi người làm để cho xí nghiệp của họ sống được. Rốt cuộc là mọi người càng chán nản hơn.

Ngày thứ hai, chúng tôi nêu lên vấn đề: “Cái gì sẽ xảy ra trong tương lai?” Chúng tôi nghiên cứu các xu hướng môi trường với giả định rằng những cái này sẽ tạo ra tương lai của họ. Cuối ngày thứ hai, chúng tôi càng chán nản. Công việc còn tồi tệ trước khi khá hơn lên, mọi người đều biết điều đó.

Sang ngày thứ ba, chúng tôi quyết định tập trung vào vấn đề tích cực: “Phản ứng của chúng ta là gì? Chúng ta sẽ làm gì đây? Trong hoàn cảnh này, chúng ta phải chủ động như thế nào?” Buổi sáng chúng tôi thảo luận về quản lý và giảm chi phí. Buổi chiều chúng tôi thảo luận tăng tỷ lệ hàng bán được. Chúng tôi có ý kiến hay về cả hai lĩnh vực, sau đó tập trung vào nhiều cái thực tế, khả thi nhất. Cuộc gặp mặt kết thúc trong tinh thần mới, hứng khởi, hy vọng, hiểu biết một cách tích cực hơn.

Cuối ngày thứ ba, chúng tôi tóm tắt các kết quả thảo luận thành một câu trả lời cho câu hỏi: “Công việc làm ăn sẽ ra sao?”. Câu trả lời này có ba phần.

Phần thứ nhất: Những gì đang xảy ra với chúng tôi là không tốt và có xu hướng càng tồi tệ, chỉ đến khi thật tồi tệ rồi mới tốt lên được.

Phần thứ hai: Những gì chúng tôi đang làm cho xảy ra là rất tốt để quản lý tốt hơn, giảm chi phí, nâng cao tỷ lệ hàng bán được.

Phần thứ ba: Do đó, công việc làm ăn tốt hơn bao giờ hết.

Bây giờ một đầu óc thụ động sẽ nói gì về việc này? “Ừ, cứ tiếp tục đi. Hãy đối diện với thực tế. Những suy nghĩ tích cực và tiếp cận tự kỷ ám thị của các anh cũng chỉ đến thế thôi. Sớm muộn các anh cũng phải đối đầu với thực tế”.

Nhưng đó là sự khác nhau giữa suy nghĩ tích cực và tính tích cực. Chúng tôi đối diện với thực tế của hoàn cảnh hiện tại và dự kiến tương lai. Nhưng chúng tôi cũng đối diện với một thực tế là chúng tôi có khả năng chọn một sự phản ứng tích cực cho những hoàn cảnh và những dự kiến sau này. Không đối diện với thực tế sẽ phải chấp nhận ý nghĩ những gì xảy ra quanh ta sẽ quyết định chúng ta.

Công việc làm ăn, các nhóm cộng đồng, các tổ chức các loại, kể cả gia đình, đều có thể tích cực. Họ có thể kết hợp tính sáng tạo và tài tháo vát của những người tích cực để tạo ra một nên văn hóa tích cực trong lòng tổ chức. Tổ chức không thể phó mặc cho hoàn cảnh. Nó có thể chủ động hoàn thành các giá trị mà mọi người đều có phần và các mục tiêu của những người tham gia.

NGHE CHÚNG TA NÓI

Bởi vì thái độ và hành vi của chúng ta xuất phát từ mẫu của chúng ta, nếu chúng ta sử dụng khả năng tự nhận thức mà xem xét chúng, chúng ta có thể thấy ở trong chúng bản chất của những tấm bản đồ cơ bản của chúng ta. Thí dụ ngôn ngữ của chúng ta bộc lộ rõ ràng trình độ tích cực của chúng ta.

Ngôn ngữ của những người thụ động tháo gỡ trách nhiệm cho họ.

“Đó là tôi. Đó chính là tình trạng của tôi”. Người ta quyết định cho tôi. Tôi không làm được gì cho cái đó cả.

“Nó làm cho tôi điên lên!” Tôi không chịu trách nhiệm. Cuộc sống tình cảm của tôi do cái gì ở ngoài chi phối, tôi không làm chủ được.

“Tôi không làm được cái đó. Tôi không có thời gian”. Cái gì đó ở bên ngoài – thời gian hạn chế – đang chi phối tôi.

“Nếu vợ tôi kiên nhẫn hơn”. Hành vi của ai đó hạn chế tính hiệu quả của tôi.

“Tôi phải làm việc đó”. Hoàn cảnh hoặc người khác bắt tôi phải làm. Tôi không được tự do lựa chọn hành động của tôi.

Ngôn ngữ này xuất phát từ một mẫu cơ bản của quyết định luận. Và tinh thần của nó là sự chuyển giao trách nhiệm.

Tôi không chịu trách nhiệm, tôi không thể lựa chọn sự phản ứng của mình.

Có lần, một sinh viên hỏi tôi: “Thầy có thể cho em nghỉ học được không ạ? Em còn phải đi đánh quần vợt”.

“Anh phải đi hay anh tự chọn?” Tôi hỏi.

“Thật sự là em phải đi” Anh ta kêu lên.

“Nếu anh không đi thì sao?”

“Họ sẽ đuổi em ra khỏi đội”.

“Anh có muốn hậu quả như vậy không?”

“Thưa thầy, không ạ”.

“Nói cách khác, anh chọn đi vì anh muốn ở lại trong đội. Thế cái gì sẽ xảy ra khi anh nghỉ buổi học?”

“Em không biết nữa”.

“Hãy suy nghĩ kỹ đi. Hãy nghĩ đến hậu quả khi bỏ lớp”.

“Thầy có đuổi học em không?”.

“Đó là một hậu quả có tính xã hội – có tính nhân tạo. Nếu anh không tham đội bóng thì anh không chơi. Điều đó là điều tự nhiên. Nhưng nếu anh không đến lớp học, kết quả tất nhiên là gì?”.

“Em nghĩ em mất bài giảng”.

“Đúng. Thế thì anh hãy cân nhắc lại hậu quả và chọn lấy một. Tôi biết rằng, nếu là tôi, tôi sẽ đi đánh bóng. Nhưng đừng bao giờ nói là em phải”.

“Em sẽ đi đánh bóng” Anh chàng ngoan ngoãn đáp lại.

“Còn bỏ lớp học của tôi?” Tôi mỉa mai hỏi lại, không tin ở anh sinh viên ấy.

Một vấn đề nghiêm túc mà nói bằng ngôn ngữ bị động thì cũng tiên đoán được rằng bản thân vấn đề phải tự giải quyết lấy. Những người này càng tin rằng người khác quyết định thay cho mình và tạo ra chứng cớ để bảo vệ lòng tin đó. Họ càng ngày càng cảm thấy mình là nạn nhân, không tự làm chủ được, họ không chịu trách nhiệm về đời mình. Họ oán trách những trách nhiệm bên ngoài – người khác, hoàn cảnh, cả những ngôi sao – đã tác động vào hoàn cảnh của họ.

Trong một cuộc hội thảo, khi tôi đang trình bày quan niệm về tính tích cực thì một người đàn ông đứng dậy nói: “Thưa ông Stephen, tôi thích những điều ông nói. Nhưng mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Hãy nói đến cuộc hôn nhân của chúng tôi. Tôi thực sự lo lắng. Vợ tôi và tôi, chúng tôi không còn yêu nhau như trước nữa. Tôi tin rằng tôi không yêu vợ tôi và vợ tôi cũng không yêu tôi nữa. Tôi phải làm gì đây?”.

“Không còn tình cảm nữa à?” Tôi trả lời.

“Tôi đã nói với ông là không còn tình cảm nữa”.

“Hãy yêu vợ ông đi”.

“Ông thật không hiểu. Không còn tình yêu nữa”.

“Thế thì yêu đi. Nếu không còn tình yêu nữa thì đó là một lý do tốt để yêu vợ ông”.

“Nhưng mà làm sao làm được nếu không yêu?”

“Ông bạn ạ, yêu là một động từ. Yêu – tình cảm – là kết quả của yêu – động từ. Vì vậy hãy yêu vợ ông đi. Hãy phục vụ vợ ông. Hãy hy sinh. Hãy nghe vợ ông nói. Hãy thông cảm với vợ ông. Đánh giá cao vợ ông. Khẳng định bà ấy. Ông có vui lòng làm những việc đó không?”.

Trong văn học của tất cả các xã hội tiến bộ, yêu là một động từ. Người thụ động coi nó là một tình cảm. Họ bị tình cảm điều khiển. Hollywood thường làm cho chúng ta tin rằng chúng ta không phải chịu trách nhiệm, rằng chúng ta là sản phẩm của tình cảm. Nhưng các tình cảm của Hollywood không miêu tả thực tế. Nếu tình cảm chi phối hành động của chúng ta, là vì chúng ta từ bỏ trách nhiệm của chúng ta và cho nó quyền làm như vậy.

Những người tích cực coi yêu là một động từ. Yêu là một cái gì đó bạn làm – sự hy sinh, sự hiến dâng – giống như một bà mẹ cho đứa con ra đời. Nếu bạn muốn học yêu, hãy học những người hy sinh cho kẻ khác, ngay cả với những người xúc phạm họ hoặc không yêu lại họ. Nếu bạn là bố mẹ, bạn hãy nhìn vào tình yêu dành cho các con mà vì chúng bạn đã hy sinh. Tình yêu là một giá trị được hiện thực hóa qua các hành động yêu. Người tích cực để cho tình cảm phụ thuộc giá trị. Tình yêu là cảm tính có thể đoạt lại được.

VÒNG QUAN TÂM / VÒNG ẢNH HƯỞNG

Một cách tối ưu khác để có khả năng tự nhận thức hơn liên quan đến trình độ của tính tích cực của chúng ta là nhìn vào nơi chúng ta tập trung thời gian và sức lực. Mỗi người chúng ta quan tâm đến nhiều thứ: sức khỏe, con cái, công việc, nợ quốc gia, chiến tranh hạt nhân. Chúng ta có thể tách những cái này ra khỏi những cái mà chúng ta không có liên quan đặc biệt về mặt trí tuệ hoặc tình cảm bằng cách tạo một “Vòng quan tâm”.

Khi những điều này ở trong Vòng quan tâm của chúng ta, thì rõ ràng có một số điều chúng ta thực sự không làm chủ được đồng thời có những điều khác, chúng ta có thể xác định những điều ở nhóm sau này bằng cách giới hạn chúng trong một vòng tròn nhỏ hơn gọi là “Vòng ảnh hưởng”.

Bằng cách xác định trong hai vòng tròn đó chúng ta sẽ tập trung thời gian và năng lực nhiều nhất vào vòng tròn nào mà chúng ta có thể phát hiện được nhiều về trình độ tích cực của chúng ta.

Những người tích cực tập trung nỗ lực vào Vòng ảnh hưởng. Họ tác động vào những cái mà họ có thể làm được một cái gì đó. Bản chất năng lực của họ là tích cực, mở rộng, phóng to, làm cho Vòng ảnh hưởng lớn lên.

Những người thụ động thì lại tập trung nỗ lực vào Vòng quan tâm. Họ tập trung vào những yếu kém của những người khác, vào các vấn đề ở xung quanh, vào các hoàn cảnh mà họ không làm chủ được. Sự tập trung của họ dẫn đến thái độ trách móc, kết tội, đến lời lẽ thụ động và đến ý nghĩ coi mình là nạn nhân tăng lên. Sự tập trung đó đẻ ra năng lực tiêu cực, kết hợp với họ khi họ làm cái gì đó, làm cho Vòng ảnh hưởng co lại.

Chừng nào chúng ta còn tác động vào Vòng quan tâm thì chúng ta còn làm cho những cái trong đó có khả năng chế ngự chúng ta. Chúng ta không có những chủ động tích cực cần thiết để thực hiện những thay đổi tích cực.

SỰ TẬP TRUNG TÍCH CỰC

( Năng lực tích cực mở rộng Vòng ảnh hưởng)

Trước đây tôi đã chia sẻ với các bạn câu chuyện con trai tôi có những vấn đề nghiêm trọng ở nhà trường. Sandra và tôi đã quan tâm sâu sắc đến sự yếu kém bề ngoài của cháu và về cách người khác đối xử với cháu.

Nhưng tất cả những cái đó đều ở trong Vòng quan tâm của chúng tôi. Chừng nào chúng tôi còn tập trung nỗ lực vào những cái này, thì chúng tôi vẫn không làm được cái gì cả ngoài việc làm tăng cảm tưởng thiếu xót và bất lực và củng cố sự phụ thuộc của con trai chúng tôi.

Chỉ đến khi chúng tôi làm việc với Vòng ảnh hưởng, khi chúng tôi tập trung vào mẫu của chúng tôi thì chúng tôi mới tạo ra được năng lực tích cực thay đổi bản thân mình và cuối cùng tác động đến con chúng tôi. Bằng cách cải tạo bản thân thay cho hoàn cảnh, chúng tôi đã có khả năng tác động vào hoàn cảnh.

Do địa vị, của cải, vai trò hoặc quan hệ mà có một số trường hợp trong đó Vòng ảnh hưởng của một người lớn hơn Vòng quan tâm của người đó.

SỰ TẬP TRUNG THỤ ĐỘNG

(Năng lực tiêu cực thu hẹp Vòng ảnh hưởng)

Mặc dầu có thể phải ưu tiên dùng ảnh hưởng của mình, người tích cực có một Vòng quan tâm ít nhất lớn bằng Vòng ảnh hưởng, có trách nhiệm sử dụng ảnh hưởng của mình một cách có hiệu quả.

ĐIỀU KHIỂN TRỰC TIẾP, ĐIỀU KHIỂN GIÁN TIẾP VÀ KHÔNG ĐIỀU KHIỂN

Những vấn đề mà chúng tôi phải đối phó rơi vào một trong ba lĩnh vực: điều khiển trực tiếp (các vấn đề liên quan đến hành vi của chúng ta), điều khiển gián tiếp (những vấn đề liên quan đến những hành vi của người khác) hoặc không điều khiển (những vấn đề chúng ta có thể không thể làm gì cả như quá khứ của chúng ta hoặc thực tại hoàn cảnh của chúng ta). Tiếp cận tích cực đặt bước chân đầu tiên vào việc giải quyết tất cả ba loại vấn đề đó trong Vòng ảnh hưởng hiện tại của chúng ta.

Các vấn đề điều khiển trực tiếp được sẽ giải quyết bằng cách tác động vào hành vi của chúng ta. Đó là những “Thắng lợi riêng tư” của các thói quen 1, 2 và 3.

Các vấn đề điều khiển gián tiếp được sẽ giải quyết bằng cách thay đổi phương pháp tác động. Đó là những “Thắng lợi công cộng” của các thói quen 4, 5 và 6. Tôi đã xác định được trên 30 phương pháp tác động riêng lẻ của con người. Đa số mỗi người chỉ có 3 phương pháp, thông thường bằng lý luận, nếu không thuyết phục được thì chuyển sang đổi hướng hoặc đấu tranh. Con người ta cảm thấy được tự do biết bao khi chấp nhận ý kiến có thể học được những phương pháp tác động mới thay vì khư khư dùng các phương pháp không có hiệu quả cũ để “nhào nặn người khác”!.

Các vấn đề không điều khiển được liên quan đến trách nhiệm thay đổi bộ mặt của chúng ta – mỉm cười, bình tĩnh chấp nhận vấn đề, học cách chung sống với chúng ngay cả khi chúng ta không thích chúng. Bằng cách này, chúng ta có khả năng làm cho chúng không điều khiển được chúng ta được. Chúng ta nhất trí với tinh thần trong lời cầu nguyện của Những người nghiện rượu vô danh: “Lạy chúa, xin người cho tôi can đảm để thay đổi những gì có thể phải thay đổi, cho tôi thanh thản để chấp nhận những gì không thay đổi được, và cho tôi trí khôn để biết phân biệt”.

Dù vấn đề là trực tiếp, gián tiếp hoặc không điều khiển được, chúng ta đều có trong tay bước đi ban đầu của giải pháp. Thay đổi hành vi, thay đổi phương pháp tác động, thay đổi cách nhìn vấn đề không điều khiển được, tất cả nằm trong Vòng ảnh hưởng của chúng ta.

MỞ RỘNG VÒNG ẢNH HƯỞNG

Chúng ta nhận thấy rằng bằng cách chọn phản ứng cho hoàn cảnh, chúng ta đã tác động mạnh mẽ đến hoàn cảnh. Khi thay đổi một bộ phận của công thức hóa học, chúng ta thay đổi bản chất của các kết quả.

Tôi đã làm việc nhiều năm với một tổ chức do một người rất năng động đứng đầu. Ông ta có thể đoán được các xu hướng. Ông ta có óc sáng tạo, có tài, có khả năng. Ai cũng biết được điều đó. Nhưng ông ta có một tác phong quản lý rất độc đoán. Ông có xu hướng đối xử với mọi người như một cái “bánh kẹp”, cứ như là họ không có nhận xét gì cả. Cách ông nói với những người làm việc trong tổ chức là: “Đi tìm cái này … đi lấy cái kia … bây giờ làm cái này … tôi quyết định”.

Tác động rõ rệt là hầu hết những người trong ban giám đốc xa lánh ông. Họ tập hợp nhau lại ngoài hành lang và phàn nàn về ông. Các cuộc thảo luận của họ tinh vi, rất thích hợp, cứ như họ đang cố gắng giúp đỡ tổ chức. Họ cứ làm như thế mãi, trút bỏ mọi trách nhiệm, quy trách nhiệm cho nhược điểm của giám đốc.

“Anh có biết lần này xảy ra việc gì không?” Một người nói. “Hôm trước lão đến chỗ tôi. Tôi đã bố trí mọi thức đâu vào đấy. Thế mà lão đến đảo lộn tất cả. Mọi thứ tôi làm hàng tháng nay đều bị vứt bỏ, đúng là như vậy. Tôi không biết phải làm thế nào để vừa ý lão. Đến bao giờ lão mới về hưu?”.

“Lão mới năm chín”. Một người khác trả lời. “Anh có nghĩ rằng anh sống thêm được sáu năm nữa không?”.

“Tôi không biết. Lão là loại người không chịu về hưu”.

Nhưng có một người trong ban giám đốc lại có tính tích cực. Ông làm việc theo giá trị chứ không phải theo cảm tính. Ông chủ động – dự đoán, thấu cảm, tìm hiểu tình hình. Ông thấy nhược điểm của giám đốc, nhưng thay vì phê phán, ông bổ khuyết cho những thiếu sót đó. Nơi nào giám đốc có nhược điểm trong tác phong thì nơi đó ông cố gắng làm vui lòng nhân viên của ông và vô hiệu hóa các nhược điểm đó. Ông tranh thủ những ưu điểm của giám đốc – tầm nhìn xa, tài năng, óc sáng tạo – để làm việc.

Con người này tập trung vào Vòng ảnh hưởng của mình. Ông cũng bị đối xử như chiếc bánh kẹp. Nhưng ông làm việc nhiều hơn mong đợi. Ông đón trước nhu cầu của giám đốc, ông nghiên cứu với sự thấu cảm những điều giám đốc quan tâm nhất, vì vậy khi trình bày một thông tin, ông phân tích và đưa ra những khuyến nghị dựa trên sự phân tích đó.

Một hôm, tôi ngồi làm việc với giám đốc với tư cách cố vấn; ông nói: “Stephen này, tôi thật không tin nổi những gì con người ấy đã làm. Không những ông ta cho tôi những thông tin tôi yêu cầu mà còn cho tôi thêm những thông tin mà tôi đang cần. Ông ta còn phân tích những thông tin đó đúng với những gì mà tôi đang quan tâm sâu sắc nhất. Ông ta còn đưa cho tôi một bản khuyến nghị. Những lời khuyên này đều phù hợp với phân tích, mà phân tích lại phù hợp với số liệu. Ông ta thật đặc biệt!. Tôi không phải lo về phần việc này nữa”.

Trong cuộc gặp sau đó, vẫn là “đi tìm cái này… đi tìm cái kia” với mọi thành viên trong ban giám đốc … trừ một người. Đối với người này là: “Ý kiến anh thế nào?” Vòng ảnh hưởng của ông ta đã lớn lên. Sự kiện này nhanh chóng làm náo loạn cả cơ quan. Những đầu óc phản ứng của các vị trong hành lang bắt đầu công kích con người tích cực này.

Bản chất của người phản ứng là gạt bỏ trách nhiệm. Thật là an toàn khi nói: “Tôi không chịu trách nhiệm”. Giả dụ phải nói “Tôi có trách nhiệm” thì người ta lại nói “Tôi không có trách nhiệm”. Thật là hết sức khó khăn cho một người khi nói rằng “tôi có quyền chọn phản ứng” mà phản ứng của họ chọn lại là kết quả của việc họ tham gia một môi trường tiêu cực, cấu kết, và đặc biệt nếu trong nhiều năm, họ đã trút hết mọi trách nhiệm lên sự yếu kém của ai đó.

Cho nên, những thành viên của ban quản trị đã tập trung đi tìm thêm nhiều thông tin, nhiều sự kiện, nhiều chứng cứ nữa để thanh minh cho việc không chịu trách nhiệm của họ.

Nhưng người này tác động tích cực vào họ. Dần dần Vòng ảnh hưởng của ông lớn lên về phía họ. Nó lan rộng tới mức cuối cùng không ai làm một việc quan trọng mà không có sự tham gia ý kiến và sự tán thành của ông, kể cả ông giám đốc. Nhưng ông giám đốc không vì thế mà cảm thấy bị đe dọa bởi vì sức mạnh của người này bổ sung cho sức mạnh của ông và bù đắp cho những nhược điểm của ông. Vì vậy ông có sức mạnh của hai người, sức mạnh của một tổ bổ sung.

Thành công của ông không phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nhiều người khác cũng ở trong những hoàn cảnh như vậy. Sự khác nhau là ở chỗ phản ứng được lựa chọn trong những trường hợp này, sự tập trung vào Vòng ảnh hưởng của ông.

Có một số người cho rằng “tích cực” có nghĩa là sấn sổ, gây gổ, không có tình cảm. Hoàn toàn không phải như vậy. Người tích cực không hề sấn sổ. Họ khôn khéo, biết giá trị, thấy thực tế, biết cái gì là cần thiết.

Hãy xem xét trường hợp của Gandhi. Trong lúc những người tố cáo ông ở các phòng lập pháp, phê phán ông vì ông không tham gia câu lạc bộ Tư từ học của họ lên án Đế quốc Anh nô dịch dân tộc Ấn Độ, thì Gandhi đi vào các đồng lúa, chầm chậm, tinh tế, mở rộng Vòng ảnh hưởng của ông trong nông dân. Một làn sóng ngầm ủng hộ, theo ông qua khắp đất nước. Mặc dù ông không giữ một chức vụ nào, một vị trí chính trị nào, nhưng với tình thương, lòng can đảm, sự tuyệt thực và sự thuyết phục của đạo đức, cuối cùng ông đã làm cho nước Anh phải quỳ gối, từ bỏ sự đô hộ về chính trị ba trăm triệu người trước sức mạnh của Vòng ảnh hưởng được phát triển rất rộng của ông.

CÁI “CÓ” VÀ “CÁI “BẢN CHẤT”

Một cách để xác định sự quan tâm của chúng ta ở trong Vòng nào là phân biệt giữa cái có và cái bản chất.

Vòng quan tâm đầy những cái có.

“Tôi sẽ rất sung sướng khi tôi có một cái nhà đã trả hết nợ”.

Giá mà tôi có một ông chủ không độc đoán như thế”.

Giá mà tôi có một ông chồng kiên nhẫn hơn”.

Giá mà tôi có những đứa con biết vâng lời”.

Giá mà tôi có địa vị”.

Giá mà tôi có nhiều thời gian cho tôi hơn”.

Vòng ảnh hưởng đầy những cái bản chất. Tôi có thể kiên nhẫn hơn, khôn ngoan hơn, đáng yêu hơn. Đó là nơi tập trung tính cách.

Bất kỳ lúc nào chúng ta nghĩ rằng vấn đề “ở bên ngoài” thì ý nghĩ đó chính là vấn đề. Chúng ta để cho những cái ở bên ngoài có khả năng điều khiển chúng ta. Mẫu thay đổi thành “từ ngoài vào trong” – cái bên ngoài có thể thay đổi trước khi chúng ta có thể thay đổi.

Tiếp cận tích cực là thay đổi từ trong ra ngoài: Phải có sự thay đổi, và bằng sự thay đổi đó, chúng ta tác động tích cực vào cái bên ngoài phải thay đổi. Chúng ta có thể tháo vát hơn, cần cù hơn, sáng tạo hơn, sẵn sàng hợp tác hơn.

Một trong những câu chuyện lý thú của Cựu Ước, bộ phận cấu thành cơ bản của truyền thống Do Thái – Cơ Đốc, là câu chuyện về Joseph bị các anh mình bán sang Ai Cập làm nô lệ năm 17 tuổi. Chắc các bạn nghĩ rằng Joseph phải buồn tủi, than thân trách phận, làm đầy tớ cho Potiphar, oán trách các anh mình và những người bắt mình, buồn bã vì mình trần thân trụi? Nhưng Joseph lại là một con người tích cực, anh tác động vào bản chất của anh. Và trong một thời gian ngắn, anh điều hành mọi công việc trong nhà Potiphar. Anh phụ trách tất cả những gì Potiphar có vì anh rất được tín nhiệm.

Rồi một ngày kia, Joseph lâm vào một hoàn cảnh rất khó khăn nhưng anh không chịu để cho lòng chính trực của mình bị xúc phạm. Kết quả là anh bị cầm tù một cách oan uổng trong mười ba năm. Nhưng anh lại tích cực. Anh tác động vào vòng tròn bên trong, vào bản chất thay cho cái có, chẳng mấy chốc, anh đã điều hành công việc của nhà lao, và cuối cùng là toàn bộ đất nước Ai Cập, chỉ dưới vua Pharaoh ( Pha – ra – ông ).

Tôi biết câu chuyện này là một hoán vị mẫu gây ấn tượng mạnh mẽ cho nhiều người. Oán trách người khác, đổ lỗi cho người ta tạo ra tình huống, đổ lỗi cho hoàn cảnh dồn mình đến tình trạng bế tắc thì thật là dễ dàng. Chúng ta phải có trách nhiệm làm chủ cuộc sống của chúng ta và tác động mạnh mẽ vào hoàn cảnh của chúng ta bằng cách tác động vào bản chất của chính mình.

Nên trong cuộc sống vợ chồng của chúng tôi có vấn đề thì tôi được lợi gì khi không ngừng kể tội vợ tôi?

Bằng việc nói rằng tôi không có trách nhiệm, tôi đã làm cho mình trở thành nạn nhân bất lực; tôi tự trói mình trong hoàn cảnh tiêu cực. Tôi cũng tự làm giảm khả năng của tôi tác động lên vợ tôi bằng thái độ la rầy, lên án, chỉ trích, nó chỉ làm cho vợ tôi cảm thấy khuyết điểm của mình là có căn cứ. Sự chỉ trích của tôi còn tồi tệ hơn là cách cư xử mà tôi muốn uốn nắn. Khả năng tác động tích cực đến tình hình của tôi sẽ tàn lụi và chết.

Nếu thực sự muốn tình hình tốt hơn lên, tôi có thể tác động vào một thứ mà tôi làm chủ được, đó là bản thân tôi. Tôi có thể ngừng uốn nắn vợ tôi và tác động vào những khuyết nhược điểm của bản thân. Tôi có thể tập trung vào cái là người chồng tuyệt vời, vào nguồn tình yêu và chỗ dựa không điều kiện. Tràn trề hy vọng, vợ tôi sẽ cảm thấy sức mạnh của tấm gương tích cực và sẽ phản ứng lại đúng như vậy. Nhưng dù vợ tôi có làm đúng như vậy hay không thì cách tốt nhất để cải thiện tình hình của tôi vẫn là tác động vào bản thân tôi, vào bản chất của tôi.

Có nhiều cách tác động vào Vòng ảnh hưởng – như là làm một người biết lắng nghe hơn, làm một người chồng yên nhiều hơn, làm một người học trò tốt hơn, làm một người làm công hợp tác tốt hơn và cống hiến nhiều hơn. Đôi khi, cái tích cực nhất mà chúng ta có thể làm là vui vẻ, là mỉm cười chân thật. Vui sướng cũng như đau khổ, là một sự lựa chọn tích cực. Có những cái, như thời tiết, không bao giờ nằm trong vòng ảnh hưởng của chúng ta. Nhưng là người tích cực, chúng ta có thể mang trên mình thời tiết vật chất hoặc xã hội của bản thân. Chúng ta có thể vui sướng và nhận những cái mà hiện nay ta không điều khiển được để tập trung nỗ lực vào những cái ta có thể điều khiển.

ĐẦU KIA CỦA CHIẾC GẬY

Trước khi di chuyển hoàn toàn trung tâm cuộc sống của chúng ta vào Vòng ảnh hưởng, chúng ta cần phải xem xét hai điều trong Vòng quan tâm của chúng ta. Hai điều này đáng để cho chúng ta suy nghĩ sâu hơn. Đó là hậu quảsai lầm.

Trong khi chúng ta được tự do lựa chọn hành động thì chúng ta không được lựa chọn hậu quả của những hành động đó. Hậu quả do quy luật tự nhiên chi phối. Chúng ở ngoài Vòng quan tâm. Chúng ta có thể quyết định đứng trước một đoàn tàu chạy nhanh, nhưng chúng ta không thể quyết định cái gì sẽ xảy ra khi tàu húc vào ta.

Chúng ta có thể quyết định gian lận trong giao dịch mua bán. Trong lúc các hậu quả xã hội của quyết định này có thể thay đổi tùy thuộc vào chúng ta có bị phát hiện hay không, thì hậu quả tất yếu đối với tính cơ bản của chúng ta là cố định.

Hành vi của chúng ta do các nguyên lý chi phối. Sống hòa hợp với chúng sẽ đem lại hậu quả tích cực. Vi phạm chúng sẽ đem lại hậu quả tiêu cực. Chúng ta được tự do lựa chọn phản ứng của mình trong mọi tình huống, nhưng khi làm như vậy, chúng ta đã chọn hậu quả kèm theo. “Khi chúng ta nhấc chiếc gậy ở đầu này thì đầu kia của nó cũng được nhấc lên”.

Chắc chắn trong cuộc sống của chúng ta, đã có lần chúng ta nhặt chiếc gậy lên mới biết là gậy dởm. Sự lựa chọn của chúng ta đã đem lại kết quả ngoài ý muốn. Nếu được chọn lại chúng ta sẽ chọn khác. Chúng ta gọi sự lựa chọn này là sai lầm, và chúng là cái thứ hai đáng để suy nghĩ sâu sắc hơn.

Về những việc đã làm mà phải ân hận, có lẽ việc cần thiết nhất của tính tích cực là thừa nhận rằng những sai lầm đã qua cũng là cái ở ngoài Vòng quan tâm. Chúng ta không thể phủ nhận chúng, chúng ta không thể làm chủ hậu quả do chúng đưa đến.

Là tiền vệ trong đội bóng của nhà trường, một cậu con trai tôi học được cách bật miếng da bọc ở cổ tay như là một cách thừa nhận sai lầm mỗi khi cháu hoặc ai đó phạm sai lầm lúc “đá bóng về” và như vậy thì sai lầm này không ảnh hưởng đến quyết tâm và việc chơi tiếp.

Tiếp cận tích cực đối với một sai lầm là thừa nhận nó ngay lập tức, sửa chữa và rút kinh nghiệm. Điều này sẽ chuyển bại thành thắng. T.J. Watson, người sáng lập IBM nói: “Thắng lợi ở mặt bên kia của thất bại”.

Nhưng không thừa nhận sai lầm, không sửa chữa và rút kinh nghiệm lại là một sai lầm kiểu khác. Nó thường đẩy người ta vào chỗ tự quyết định và tự bào chữa, thường là hợp lý hóa sự mắc mứu (những dối trá có lý lẽ) cho bản thân hoặc cho người khác. Sai lầm thứ hai này, là cái vỏ bọc, làm cho sai lầm thứ nhất càng tác hại hơn, và làm hại thêm cả bản thân mình.

Không phải cái người khác làm hoặc sai lầm của chính chúng ta gây thiệt hại cho chúng ta nhất mà chính là phản ứng của chúng ta đối với những cái đó. Đuổi theo con rắn độc vừa cắn mình chỉ làm cho chất độc có thời gian chảy khắp cơ thể mình. Tốt nhất là tìm cách khử hết chất độc đã.

Phản ứng của chúng ta đối với sai lầm ảnh hưởng đến chất lượng của lần hoạt động sau. Quan trọng nhất là thừa nhận ngay sai lầm và sửa chữa sai lầm, như vậy sai lầm không còn tác hại tiếp được nữa và bản thân chúng ta lại mạnh hơn lên.

CAM KẾT VÀ GIỮ ĐIỀU CAM KẾT

Cốt lõi của vòng ảnh hưởng là khả năng cam kết, khả năng hứa và giữ lời hứa. Những cam kết với bản thân và với người khác, và lòng trung thành với những cam kết đó là bản chất và sự thể hiện rõ ràng của tính tích cực của chúng ta.

Đó cũng là bản chất của sự phát triển của chúng ta. Qua sự tự nhận thứclương tâm mình, chúng ta trở nên có ý thức trong các lĩnh vực của nhược điểm, các lĩnh vực làm cho mình tiến bộ, các lĩnh vực của tài năng mà mình phát triển được, các lĩnh vực cần phải thay đổi hoặc xóa bỏ hẳn trong cuộc sống. Vậy thì, khi thừa nhận và sử dụng trí tưởng tượng và ý chí độc lập của mình tác động vào sự hiểu biết đó – hứa, đặt ra mục tiêu và trung thành với nó – chúng ta đã xây dựng sức mạnh của tính cách, xây dựng bản chất, những cái này sẽ làm cho mọi cái tích cực trong cuộc sống của chúng ta có khả năng thực hiện được.

Ở đây, chúng ta tìm thấy hai phương pháp làm chủ được ngay cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có thể hứa và giữ lời hứa. Hoặc chúng ta có thể đề ra mục tiêu và thực hiện mục tiêu. Khi cam kết và giữ lời cam kết, dù là những cam kết nhỏ, chúng ta đã xây dựng sự trung thực trong chúng ta. Lòng trung thực này sẽ làm cho chúng ta làm chủ được mình, cho chúng ta can đảm và sức mạnh nhận lấy nhiều trách nhiệm hơn trong cuộc sống của bản thân mình.

Bằng cách hứa và giữ lời hứa với mình và với người khác, dần dần danh dự của chúng ta trở thành lớn hơn tâm tính của chúng ta.

Khả năng cam kết và giữ điều cam kết với bản thân là bản chất của sự phát triển những thói quen cơ bản của tính hiệu quả. Kiến thức, kỹ năng và sự khao khát đều nằm trong sự kiểm soát của chúng ta. Chúng ta có thể tác động vào một trong ba điều đó để chúng phát triển cân đối. Khi phạm vi gặp nhau của chúng lớn lên, chúng ta có thể tiếp thu sâu sắc hơn những nguyên lý làm nền tảng cho các thói quen và tạo nên sức mạnh của tính cách dẫn ta vào con đường vững chắc đưa đến hiệu quả ngày càng tăng trong cuộc sống của chúng ta.

TÍNH TÍCH CỰC: TRẮC NGHIỆM 30 NGÀY

Chúng ta không cần phải trải qua trại tập trung chết chóc của Frankl để nhận thức được và phát triển tính tích cực của chính mình. Chính trong những chuyện đời thường chúng ta vẫn phát triển được khả năng của tính tích cực để xử trí với những sức ép bất thường của cuộc sống. Đó là việc ta cam kết và giữ điều cam kết như thế nào, xử lý một vụ ách tắc giao thông ra sao, phản ứng với một khách hàng cáu kỉnh hoặc một đứa bé bướng bỉnh như thế nào. Đó là cách chúng ta nhìn nhận các vấn đề của chúng ta ra sao và chúng ta tập trung sức lực vào đâu. Đó là ngôn từ mà chúng ta sử dụng.

Tôi muốn yêu cầu các bạn thử nghiệm nguyên lý của tính tích cực trong ba mươi ngày. Chỉ làm thử và xem cái gì sẽ xảy ra trong ba mươi ngày chỉ tác động vào Vòng ảnh hưởng của bạn thôi. Hãy cam kết những điều bình thường và giữ những điều cam kết đó. Hãy là ánh sáng, đừng là quan tòa. Hãy là gương mẫu, đừng là người chỉ trích. Hãy là một phần của giải pháp, đừng là một phần của vấn đề.

Thử làm như vậy trong hôn nhân, gia đình và việc làm của bạn. Đừng dùng lý luận để biện hộ cho sự yếu kém của người khác. Đừng dùng lý luận để biện hộ cho bạn. Khi bạn sai lầm, hãy thừa nhận sửa chữa, rút kinh nghiệm ngay lập tức. Đừng buộc tội, đừng khiển trách. Hãy tác động vào những cái bạn làm chủ được. Hãy tác động vào bạn, vào bản chất.

Hãy nhìn những yếu kém của người khác với sự thông cảm, đừng lên án họ. Vấn đề không phải là cái họ không làm hoặc sẽ làm; vấn đề là phản ứng của bạn để đối phó với tình hình và cái bạn sẽ làm. Nếu bạn bắt đầu bằng ý nghĩ cho rằng vấn đề là “ở bên ngoài”, hãy dừng lại. Ý nghĩ đó chính là vấn đề.

Chúng ta chịu trách nhiệm về tính hiệu quả của chúng ta, về hạnh phúc của chúng ta, và cuối cùng, tôi muốn nói là chúng ta chịu trách nhiệm phần lớn về hoàn cảnh của chúng ta.

Samuel Johnson nhận xét: “Nguồn gốc của sự thỏa mãn phải xuất hiện đột ngột trong trí óc, và người có quá ít kiến thức về bản chất con người đi tìm hạnh phúc bằng cách thay đổi mọi cái trừ tính tình của mình sẽ lãng phí đời mình trong những nỗ lực vô hiệu và làm tăng thêm nỗi buồn mà mình định gạt bỏ”.

Biết rằng chúng ta có trách nhiệm là điều cơ bản cho tính hiệu quả và mọi thói quen khác của tính hiệu quả mà ta sẽ thảo luận.

GỢI Ý ÁP DỤNG

  1. Hãy nghe những lời nói của bạn và của những người xung quanh. Bạn thường có sử dụng và nghe người ta sử dụng những câu thụ động như “Giá mà”, “Tôi không thể” hoặc “Tôi phải” không?
  2. Hãy xác định một việc xảy ra trong tương lai gần mà theo kinh nghiệm đã qua bạn sẽ phải đối phó một cách thụ động. Hãy xem lại tình hình trong phạm vi Vòng ảnh hưởng của bạn. Bạn có thể phản ứng một cách tích cực không? Hãy làm nhiều lần và tạo ra trong óc bạn một việc thật rõ ràng, tưởng tượng bạn sẽ phản ứng một cách tích cực ra sao. Hãy nhớ lại sự khác nhau giữa tác nhân kích thích và sự phản ứng. Hãy hứa với mình sẽ rèn luyện sự tự do lựa chọn của bạn.
  3. Chọn một vấn đề trong công việc hoặc trong đời sống cá nhân của bạn đã chống lại bạn. Hãy xác định lại vấn đề đó là trực tiếp, gián tiếp hay không điều khiển được. Hãy xác định bước đầu tiên mà bạn có thể bước vào Vòng ảnh hưởng để giải quyết vấn đề đó và thực hiện bước đó.
  4. Hãy làm trắc nghiệm 30 ngày về tính tích cực. Hãy ghi nhận những thay đổi trong Vòng ảnh hưởng của bạn.
Advertisements