LẤY THIỆN LÀM GỐC

Có dũng quản ngàn dân, có mưu điều vạn binh

Có trí khiến muôn người, có thiện bình thiên hạ.

84. NHÂN

Có một sự trùng hợp không ngẫu nhiên mà đông tây kim cổ đều lấy con người làm trung tâm, là động lực và là mục tiêu của phát triển. Khổng Tử nói: “Yêu mình, yêu người đó chính là nhân vậy”. Và rõ ràng như mỗi chúng ta đều hiểu nhân là con người, là vì con người, là nhân đạo, là nhân ái, là nhân nghĩa, là nhân hậu.

Và cứ như thế theo nghĩa rộng, nếu là việc có hại cho người ta, có khi chỉ một người, thì dù cho có lợi cho mình đến mấy cũng nhất quyết không làm. Còn việc gì có lợi cho mọi người trong đó có mình thì dốc sức mà làm.

Nhân + Đức = Thiện

Không đố kỵ trước những thành công của người khác và lấy thành đạt của những người hơn mình làm mục tiêu phấn đấu cho bản thân đó là đặt trưng của con người xã hội Âu Mỹ. Triết lý Âu Mỹ đã làm xã hội phát triển vượt bậc về kinh tế, giải phóng sức lao động sáng tạo của lực lượng sản xuất, tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi tầng lớp trong xã hội.

Mặt khác, khi đã là người thành đạt thì phải biết cách ứng xử trong xã hội làm sao để giảm thiểu những bất bình ở mức thấp nhất. Khi chỉ giàu hơn một chút so với chúng bạn người ta thích khoa trương sự giàu sang và tiền của. Nhưng trong trường hợp bạn là người rất thành đạt, khi bạn có chất lượng cuộc sống hơn hẳn những người khác, nhưng vẫn sống chung cạnh những bạn nghèo thì lại phải biết cách hòa đồng để xóa đi sự cách biệt. Điều này càng trở nên quan trọng khi trên thế giới này vẫn còn nhiều người nghèo, và nếu như không đóng góp được gì nhiều cho công cuộc xóa đói giảm nghèo thì cũng nên cố tránh đừng kích động để tạo ra sự ghen tỵ một cách không cần thiết.

Nguyên nhân va chạm có thể là do sự hiểu biết chưa được thấu đáo về lý lẽ rằng: “Cũng là chúng sinh nhưng được hưởng nhiều hơn thiên hạ cái lộc của trời đất thì cũng là có tội rồi”.

85. LỢI

Covey có kể lại chuyện rằng: “Một bác nông dân nghèo một hôm phát hiện trong tổ con ngỗng yêu quý của mình một quả trứng vàng lấp lánh. Lúc đầu bác cho đây có lẽ là một trò lừa bịp. Nhưng khi định ném nó đi thì bác nghĩ lại và nhặt nó lên để xem xét kỹ và đánh giá.

Đúng là một quả trứng bằng vàng ròng. Bác nông dân không tin được vào vận may của mình. Bác càng băn khoăn khi sự việc lặp lại vào ngày hôm sau. Rồi ngày nào cũng vậy, khi ngủ dậy, bác ra ỗ ngỗng và ngày nào cũng thấy một quả trứng vàng. Bác trở nên giàu có quá sức tưởng tượng. Cứ như không phải là sự thật.

Nhưng của cải tăng lên thì lòng tham và sự nôn nóng giàu có cũng tăng lên. Không thể chờ ngày này sang ngày khác, mỗi ngày nhặt một quả trứng, bác nông dân quyết định thịt con ngỗng để lấy tất cả trứng vàng trong bụng của nó.Tệ hại thay, khi bác mỗ bụng con ngỗng ra thì bác thấy nó trống rỗng, không có quả trứng vàng nào cả. Và bây giờ thì không có cách gì để có trứng vàng nữa. Bác nông dân đã giết con ngỗng đẻ trứng vàng thật rồi.”

Nếu chấp nhận một kiểu sống tập trung vào những quả trứng vàng, Covey phân tích, mà quên mất không chăm sóc con ngỗng thì chẳng mấy chốc sẽ chẳng còn gì để tiếp tục sản xuất ra quả trứng vàng.

Mặt khác, nếu chỉ chăm sóc con ngỗng mà không nhằm mục đích quả trứng vàng thì chẳng mấy chốc, không còn gì ăn cũng như để nuôi ngỗng ăn.

“Nếu mình không biết tự lo cho mình thì đợi ai lo cho mình. Nếu mình chỉ riêng lo cho mình thì còn ai cùng lo với mình.”

86. PHÉP LỊCH SỰ

Trong cuốn “Sáng tạo bản thân”, Lưu Dung có kể lại chuyện rằng, hồi ở bên Mỹ trước cửa tiệm gần nhà ông thường có mấy cậu thanh niên 16, 17 tuổi đầu cạo trọc hay để kiểu tóc kỳ quái đang hò hét ầm ỹ. Ta còn thấy họ tụ tập hút bồ đà ở góc phố. Thế nhưng, chúng ta dần nhận ra họ là những người “anh không động đến tôi thì tôi không động đến anh”. Thậm chí, có thể nói họ là những người rất lễ phép.

Khi chúng ta bước vào, nếu đang đứng ở cửa, lập tức họ sẽ tránh sang một bên và nói: Xin lỗi!. Khi chúng ta chơi thua một bài, họ đứng ở bên máy, tay cầm thẻ có ý chờ và hỏi lịch sự: “Chú xong chưa, cháu có thể chơi được không?”. Lần đầu còn có nghi ngờ, vì sao họ lễ phép như vậy, hay vì chúng ta là người phương Đông, đối với khách lạ họ phải giữ khách khí? Nhưng sau một thời gian thì thấy đối với ai họ cũng làm vậy.

Một lần nói chuyện với một người bạn Mỹ về chuyện đó mới được biết, bọn trẻ đó được giáo dục phép lịch sự trong gia đình từ nhỏ, lại sống trong môi trường ai cũng ứng xử hòa nhã nên lễ phép trở thành phản ứng tự nhiên, không phải động não. Lớn lên chúng có thể hư hỏng, nhưng sự lễ phép học từ nhỏ không thay đổi mấy.

Phép lịch sự không chỉ là hình thức biểu hiện lòng thành mà thậm chí còn có thể trở thành phản ứng tự nhiên.

Càng là một đất nước tiến bộ, càng cần phép lịch sự, bởi vì nó thể hiện sự tôn trọng, nhường nhịn và bao dung. Đây còn là biểu hiện của tác phong công nghiệp, là sự chuẩn hóa giao tiếp trong cuộc sống xã hội hiện đại.

Không có những thứ đó, xã hội không thể hài hòa, dân tộc không thể đoàn kết. Từ “Điều gì mình không muốn thì đừng làm với người khác” đến “Điều gì mình muốn hãy làm cho người khác” chính là tinh thần của phép lịch sự.

Trong bài “Chữ lễ huyền diệu”, Lê Chí viết: “Trong chúng ta không biết đã có ai hình dung nếu cuộc đời này không còn chữ LỄ – một chữ lễ biết hoa với hết chiều kính quan trọng – thì quan hệ giữa con người, quan hệ xã hội sẽ ra sao?

Từ xa xưa, thuở bước vào lớp đồng ấu, đã nghe người thầy giáo già ân cần khuyên dạy “tiên học lễ, hậu học văn”. Với tuổi thơ, chữ lễ ngày ấy được hiểu là con cháu phải biết kính trọng ông bà, vâng lời cha mẹ, anh chị em biết nhường nhịn, thương yêu đùm bọc lấy nhau, với xóm làng xung quanh phải hòa nhã, lễ độ, tương trợ giúp đỡ mọi người. Ấy là gia phong, là thước đo nếp sống của mỗi gia đình. Thiêng liêng lắm! Vậy mà có thời không rõ vì lẽ gì ta đã lãng quên và xa lạ với “tiên học lễ…”. Nhưng chữ lễ không bao giờ chết. Nó có sức sống mãnh liệt, tiềm ẩn trong mỗi con người hướng thiện.

Bây giờ ở bất cứ trường tiểu học, trung học nào hàng chữ ấy cũng được kẻ thật to và đặt vị trí dễ nhìn để ngày ngày học trò có dịp ghé mắt. Còn giảng giải phân tích sâu xa điều hay lẽ thiệt về chữ lễ thì xem ra còn lơ mơ lắm. Mà cũng đúng thôi, phải đâu giáo dục phẩm chất đạo đức chỉ là trách nhiệm của thầy cô ở trường. Bởi từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này thì chữ lễ cũng đồng thời có mặt với thứ ngôn ngữ quy ước. Như bông hoa vừa thật vừa ảo, con người phải biết nhìn ngắm bằng tất cả hồn mình thì mới nhận ra hết vẻ đẹp lung linh của nó. Nhờ vậy mà con người tồn tại và phát triển đến ngày nay. Con người tìm đến cái thiện khác nào thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh. Cả một cuộc trường chinh khốc liệt. Lúc nào, nơi nào con người xem thường, xúc phạm đến chữ lễ thì cũng có nghĩa là xúc phạm chính mình, làm tổn thương nhân cách chính mình, thậm chí khiến mình trở thành tội phạm.

Do vậy, chữ lễ đâu chỉ dành riêng cho các cháu học trò. Bởi xét cho cùng, chữ lễ có hai loại: thành văn và bất thành văn. Chữ lễ thành văn là hàng trăm hàng ngàn điều luật, tuy lắm khắt khe nhưng con người có thể căn cứ vào đó mà hành xử. Còn chữ lễ bất thành văn là cực kỳ tinh tế, phức tạp. Nó thuộc thế giới đa cảm trong tư duy của mỗi người được xoay quanh cái trục vô hình của lương tâm và chân lý. Con người có thói quen xem thường những gì không hiện hữu cũng có nghĩa là rất tùy tiện đối xử với chữ lễ bất thành văn, cứ nghĩ rằng chẳng bị ai ràng buộc mình, chẳng ai giám sát được mình. Chính vì sự nhầm lẫn đáng tiếc ấy mà con người chỉ biết sợ chữ lễ thành văn. Nhưng nghĩ cho cùng, chữ lễ bất thành văn mới là huyền diệu nhất. Nó dành cho con người sự lựa chọn tự trọng và tôn trọng nhất mực. Nhờ đó mà hành vi của con người luôn được điều chỉnh giữa ranh giới tốt xấu, thiện ác. Nhờ đó mà nhiều người đã biết dừng lại bên hố sâu tội lỗi. Nhờ đó mà lòng dạ con người luôn được giữ sáng trong và làm được biết bao điều tốt đẹp. Nhờ đó mà hiếu nghĩa thủy chung, một đời trọn vẹn. Và cũng chính nhờ đó mà xóm làng giữ được bình yên, đất nước ngày càng phồn thịnh.

Nhưng thật ra chẳng đơn giản chút nào, bởi chữ lễ vốn mang trong lòng nó bao nhiêu xung đột đầy thử thách và hoàn toàn tùy thuộc vào con người, liệu con người có chối từ được trước mọi cám dỗ.”

87. ĐỨC

Người biết đạo tất không khoe

Người biết nghĩa tất không tham.

Người biết đức tất không thích lấy tiếng tăm lừng lẫy.

Đức là đạo đức, là có đạo đức.

Định nghĩa cơ bản:

Có đạo đức là không hy sinh quyền lợi của người khác vì quyền lợi của mình.

Ăn cắp, ăn trộm thì ai cũng biết vô đạo đức rồi. Nhưng mà trên con đường mưu sinh vẻ hào nhoáng của DANH, sức hấp dẫn to lớn của LỢI đã làm cho con người khó phân biệt được lúc nào là tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của mình và lúc nào là vi phạm. Cho nên J.M.Braude đã khuyên rằng: “Người khôn ngoan là người biết đến giới hạn nào thì tham vọng không còn là một phẩm chất tốt nữa”.

Công thức khái quát là :

ĐẠO ĐỨC = ĐÓNG GÓP / DANH + LỢI

Phấn đấu hưởng lợi lớn khi bản thân có đóng góp cao vẫn là có đạo đức. Trong khi đó, dù cho hưởng ít nhưng đóng góp không tương xứng thì vẫn là kém đạo đức.

Như vậy, khi hưởng danh lợi không quá đóng góp của mình thì có đạo đức. Khi hưởng danh lợi hơn phần mình đóng góp mới là kém đạo đức.

Tối ngày 1.1.2003 đánh dấu một sự kiện quan trọng, lễ trao giải thưởng Trí tuệ Việt Nam do Báo Lao động, đài Truyền hình Việt Nam và FPT tổ chức đã diễn ra với sự chứng kiến của hàng trăm bạn trẻ. Sản phẩm “Hệ điều hành thương hiệu Việt Nam Vietkey Linux” do nhóm tác giả Nguyễn Hồng Anh, Trần Việt Hùng, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Ngọc Sơn, Vũ Minh Tuấn đã đạt giải nhất cuộc thi. Nhưng một nỗi buồn còn đọng lại sau đó. Rõ ràng các nhà lập trình không thể sống chỉ bằng tiền thưởng của các cuộc thi. Trong tình hình bản quyền không được tôn trọng như hiện nay, việc phát triển công nghệ phần mềm cho thị trường trong nước gần như không khả thi. Trong tình hình bán hàng được 6 phần nhưng lại bị sao chép 94 phần như hiện nay thì việc tôn trọng bản quyền không chỉ là vấn đề biết rồi khổ lắm nói mãi nữa.

Ông Hà Thân – Giám đốc công ty cổ phần Lạc Việt – cho biết, việc sử dụng phần mềm bất hợp pháp ở Việt Nam phổ biến đến mức cho đến nay Lạc Việt chưa ghi nhận được trường hợp cơ quan nhà nước nào mua bản quyền từ điểm Mtd của Lạc Việt, mặc dù hầu như máy tính nào cũng cài đặt phần mềm này.

Ông cho rằng 100% DNNN đều vi phạm. Chỉ có một số ít là 5% doanh nghiệp tư nhân là có ý thức tôn trọng bản quyền ở nhiều mức độ. Riêng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì các công ty Mỹ, Nhật là tôn trọng bản quyền nhất (70%), các tổ chức Châu Âu kém hơn (chỉ 40%). Cũng về vấn nạn bản quyền phần mềm, ông Ngô Phúc Cường, tổng giám đốc Microsoft Việt Nam, cho rằng: “Chúng ta cần phải hiểu rằng việc ăn cắp bản quyền phần mềm chẳng khác gì ăn cắp một thứ gì khác. Nếu một doanh nghiệp không nên ăn cắp một cái bàn hay một chiếc máy vi tính cho nhân viên mới, thì cũng không nên ăn cắp phần mềm”.

Khi và chỉ khi mỗi chúng ta đủ lòng tự trọng để chỉ mua và sử dụng các chương trình phần mềm chính gốc thì công nghệ thông tin Việt Nam mới có thể đứng vững trên đôi chân của mình. Trong thời chuyển tiếp vào nền kinh tế tri thức ngày nay, thì ăn cắp sách cũng là ăn cắp, dùng chùa phần mềm thực chất cũng là một kiểu ăn cắp. Nếu như việc sao chép lậu vẫn còn diễn ra và chưa chấm dứt được ngay thì các công ty, các cơ quan, các pháp nhân cũng nên ủng hộ cho sự phát triển của công nghệ thông tin Việt Nam bằng cách tẩy chay hàng sao chép lậu ít ra là trong phạm vi đơn vị của mình. Phải biết nói không với việc vi phạm bản quyền. Phải xóa cho được não trạng dùng chùa còn đó đây vương vấn trong mỗi chúng ta.

Các công ty thường được ví như những thực thể sống, nhưng thực ra lại là vô tri, vô giác mà chính người ta đã đem lại sinh khí cho nó làm cho nó giống như người ta. Thế giới kinh doanh chủ yếu xoay quanh các công ty sản xuất và có hai mặt: sản xuất với quản lý và ý thức về trách nhiệm của nó đối với xã hội. Mục tiêu đã trở thành triết lý của thế giới kinh doanh là tìm hoặc tạo ra những nhu cầu để rồi tìm cách cung ứng sản phẩm hay dịch vụ hầu thỏa mãn nhu cầu đó bằng cách bỏ ít sức lực nhất và thu lợi nhiều nhất có thề. Vì vậy, nổ lực của doanh nhân là cắt giảm giá thành bằng cách không ngừng tìm kiếm những yếu tố sản xuất thuận lợi nhất và cải tiến cách quản trị để nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của sản xuất. Có những lúc để nâng cao thị phần doanh nhân phải sẵn sàng tiết giảm lợi nhuận tăng chi phí để nâng cao chất lượng hàng hóa và đặc biệt là tăng lương để lôi kéo và giữ chân những lao động có năng suất và chất lượng cao. Chính vì thế mà các công ty có thể là phải chịu đựng thua lỗ trong rất nhiều năm để cuối cùng dành chiến thắng.

Trong thời đại ngày nay, việc gia tăng ý thức trách nhiệm của công ty đối với xã hội sẽ là một xu thế bền vững vì nó đi theo sự phát triển chung về ý thức nhân sinh, nhân quyền nói chung của thế giới. Và một điều cũng đáng lưu ý là, đến một chừng mực nào đó, khi đã là một cá nhân vượt trội trong xã hội thì phải biết cách nhường nhịn và cùng gánh vác những khó khăn cho đồng loại.

88. ĐÓNG GÓP

Các loại đóng góp có thể là : nhân lực là vốn con người, vật lực là cơ sở vật chất, tài lực là các nguồn tài chính. Trong ba nguồn đóng góp trên người là vốn quý nhất.

Trong khi tiền bạc và của cải vật chất là có giới hạn thì việc gia tăng năng lực bản thân là không có giới hạn. Kỹ năng của bạn là năng lực của bạn. Rèn luyện kỹ năng của bản thân là tăng cường năng lực của chính mình.

Không cần đóng góp bằng tiền vốn hay mặt bằng sản xuất. Trí tuệ của bạn, lao động của bạn, hay nói tóm lại: năng lực của bạn là đóng góp và là đóng góp có giá trị nhất.

Năng lực của bạn một mặt là thứ vũ khí giúp bạn tiến công và đồng thời bảo vệ bạn tốt nhất. Khi bạn có nhiều thứ để hợp tác hoặc để bán-tặng-biếu-cho thì đối phương dù muốn chơi xấu cũng phải kiêng dè mà nể bạn.

Những tài sản bạn có bao gồm hữu hình và vô hình. Tài sản vô hình thực ra là tài sản lớn hơn nhiều so với tài sản hữu hình. Tài sản vô hình là lòng tin, sự tín nhiệm, là kết quả của việc giữ chữ tín của bạn với mọi người. Vô hình nhưng lại là hữu hình. Nhất là khi hữu sự. “Giàu nhờ bạn…”. Khi bạn bè tin tưởng và giao phó cho bạn thì không lý nào bạn lại không phải là người thành đạt. Năng lực của bạn khi đó là năng lực của bản thân cộng với năng lực của những người bạn.

Và ngay cả khi nếu như bạn bị mất nhiều thứ, bạn nhỡ bị sa vào tình huống “đào giếng cho người ta uống” thì cũng vẫn tốt chán. Bởi vì như vậy là bạn biết đào giếng, như vậy là không cần van xin cậy nhờ ai cả rồi vẫn sẽ có nước của mình để uống.

89.ĐỨC TRỊ

NGUYỄN QUANG THÂN

Truyện ngắn: Tàu đi hòn gai

Tàu của những người nghèo.

Những tâm trạng và nỗi buồn không có cách gột bỏ nào rẻ tiền và dễ dàng hơn là rải nó dọc một tuyến đường biển dài, khi tiếng xế địp lục bục đẩy anh xê dịch chỉ 4 hải lý một giờ đi sâu mãi vào cái hư ảo của Hạ Long.

Ngồi đối diện với tôi là một người đàn ông luống tuổi tóc bạc một cách cục cằn. Những đường nhăn không quy luật khó đoán định kẻ lên bộ mặt xạm đen vì nắng gió. Ông bảo ra Trà Cổ “tìm thằng con bất hiếu”. Nó về xin ông chia gia tài để cấp vốn cho con vợ đi buôn hàng Trung Quốc. Ông từ chối. Nó đào trộm nền nhà cuỗm sạch của ông số vàng dưỡng lão. “Năm cây vàng của tôi chứ ít ỏi gì” ông nói.

Bên cạnh tôi là một bà mù, đi với đứa con út đang ngủ gà gật. Bà còn trẻ, mắt mở to như mắt người sáng, nét mặt không một nếp nhăn và bình thản. Không thể tưởng tượng được đôi mắt ấy không còn nhận được ánh sáng, và mặt biển chiều rực rỡ trên vịnh Hạ Long đối với bà chỉ là đêm tôi mênh mông. Bà chăm chú nghe chuyện của chúng tôi theo cung cách và điệu bộ của người mù, sự chăm chú của toàn bộ cơ thể. Bà nói: “Thưa các ông, mỗi cây mỗi hoa mới gọi là đời. Tôi xin kể các ông nghe một chuyện mắt thấy tai nghe từ thời tôi còn nhỏ… – Bà hướng về người đàn ông – Xin ông đừng buồn, thiên hạ còn có người bất hiếu hơn thằng con ông”.

Câu nói như an ủi được phần nào người cha đau khổ, ông nghiêng người ra phía trước, lắng nghe. Người đàn bà mù kể:

– Hồi lên mười, mắt tôi còn sáng. Cạnh nhà tôi có một bà cụ mù. Bà góa chồng lúc còn trẻ nhưng ở vậy nuôi con. Rồi bị một cơn thiên đầu thống thế là mù hẳn. Anh con trai cưới vợ. Cả xóm nghèo ai cũng có liền mừng, mọi người tự đặt vào bàn tay bà cụ. Ở chỗ tôi những người sáng mắt cũng còn chật vật lắm mới kiếm được miếng ăn, huống gì bà. Cưới được nàng dâu tốt nết, chắc đời bà đỡ khổ. Nhưng có ai ngờ anh con! Sau ngày có vợ, người ta đã xầm xì về anh những chuyện tày trời. Thế rồi một hôm, sang nhà con bạn chơi, tôi thấy nó đang chúi mũi vào một lỗ thủng trên vách đất, nhìn sang gian nhà bà mù. Nó vẫy tôi lại. Các chư ông có biết tôi nhìn thấy chuyện gì không? Cả nhà bà cụ đang ngồi bên mâm cơm. Trên mâm có một đĩa rau luộc, một đĩa thịt kho vàng. Bà cụ ngồi nhai cơm. Anh con trai đang bặm môi dùng hai chiếc đũa đẩy đĩa thịt về phía vợ. Còn chị con dâu, mặt đỏ bừng vì xấu hổ, chống lại chồng bằng cách lấy đũa đẩy cái đĩa sang phía mẹ chồng. Cả hai giằng co nhau trên cái mâm, trong im lặng. Chỉ còn nghe tiếng nhai trệu trạo của bà mẹ. Lúc đó tôi nghĩ là bà không biết gì. Trước mắt bà chỉ là đêm tối, như trước mắt tôi bây giờ cũng chỉ là đêm tối … Cầu trời cho các chư ông đừng bao giờ phải nhìn thấy cái cảnh tôi nhìn thấy đó. Hai năm sau, bà mẹ treo cổ tự vẫn ngay trong nhà, chị con đâu đẻ được một đứa con trai thì ôm con về nhà mẹ. Nhưng anh con trai lại làm ăn lấn tới, mua được nhà khác và dọn đi. Giờ đây khi đã bị mù, tôi mới biết là mình đã nhầm. Người mù nhìn thấy mọi thứ trong bóng đêm!

Người đàn ông nức lên một tiếng. Mặt ông tái xám đi trong nắng chiều. Tôi nghĩ là câu chuyện đau buồn kia đã chạm đến vết thương lòng của ông. Tôi đưa lọ dầu gió: “Bác khó ở?…”. Ông xua tay rồi đứng dậy, bước tới phía mũi tàu. Đôi vai to bè oằn xuống trên tấm lưng mềm nhũn như không còn cột sống chống đỡ. Tôi bỗng nghĩ đến cái chết của bà mẹ mù trong câu chuyện đang làm tôi run cả người lên. Đàn ông cũng chẳng cứng rắn gì hơn đàn bà. Trên đường ra vịnh đã có bao nhiêu cuộc đời tìm cách tự giải thoát vào làn nước xanh thẫm này. Tôi quả quyết đứng dậy, đi theo người đàn ông. Ông đã ngồi xuống đống dây chão bên lỗ neo. Tôi bước lại gần, cố nghĩ cách làm ông khuây khỏa. “Ngày mai mới có tàu ra Trà Cổ. Nhà tôi ở gần núi Bài Thơ, nếu tiện xin mời bác…”

Người bạn đường nhìn tôi với đôi mắt biết ơn. Nhưng một khoảng trống mênh mông hiện ra trong mắt ông, trong cái nhìn mà tôi không thể nào mô tả nổi, một nỗi xót xa, ân hận hay thứ tình cảm gì gần như thế đang làm đôi đồng tử mắt ông to ra như ông đang hấp hối. Linh tính mách bảo tôi một điều: người dàn ông này sẽ phải nói câu gì đó với tôi hay với bất kỳ ai khác. Nếu không ông sẽ gục xuống. Tôi đã không nhầm, ông nói:

– Cám ơn ông. Nhưng tôi không ra Trà Cổ làm gì nữa. Tôi thế là đáng đời. Ông biết không, tôi đã nhận ra bà mù ấy. Bốn mươi năm trước bà la là cô bé hàng xóm của hai mẹ con tôi.

90. PHÚC

Cây xanh thì lá cũng xanh,

Của mẹ hiền lành để phước cho con.

Phúc là một ước nguyện chính đáng, là trạng thái khi các nhu cầu được thỏa mãn. Trên thực tế, các nhu cầu chỉ được thỏa mãn nhờ vào năng lực của bản thân mỗi người trong chúng ta. Như vậy khi năng lực cao với nhu cầu hợp lý là một bảo đảm cho phúc một cách bền vững. Kiyosaki và Lechter đưa ra khái niệm tài sản và tiêu sản. Tài sản được hiểu là những thứ đem lại thu nhập, còn tiêu sản thì không. Cũng là một món đồ, một chiếc xe chẳng hạn, nếu dùng để làm ăn thì đó là tài sản, còn nếu chỉ dùng để đi chơi thì đó lại là tiêu sản. Người ta giàu là vì biết cách mua được nhiều tài sản. Người ta nghèo là vì chỉ mua tiêu sản. Tri thức cũng là tài sản. Tuy phiên không phải cái gì ta biết cũng là tri thức. Tri thức là kiến thức được kết hợp với kỹ năng. Và tri thức chỉ là tài sản khi nó là cơ sở để tạo ra của cải thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội.

Có hai loại nhu cầu : Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Có hai mức nhu cầu: a. Nhu cầu cơ bản, và

b. Nhu cầu nâng cao.

Nhu cầu xã hội ngày càng tăng kể cả nhu cầu cơ bản lẫn nhu cầu nâng cao. Nhu cầu là động lực phát triển xã hội. Người ta biết đến ngày một nhiều hơn những khả năng mới của nhu cầu. Cho dù tất cả nhu cầu đều được thỏa mãn thì sau đó cũng sẽ phát sinh nhu cầu mới. Đến lượt nó, nhu cầu mới lại đòi hỏi phải được thoả nhãn. Theo Danh Đức: “Một khi bị thiệt hại quyền lợi, nhất là quyền sống tối thiểu, những người thua thiệt dễ bị kích động và trở nên thù địch lẫn nhau do những chiêu bài sắc tộc, tôn giáo và càng dễ bị ngoại bang xúi bẩy, “xào xáo” bùng nổ dẫn đến mất ổn định.”

Có 2 cách thỏa mãn nhu cầu:

Cách thứ nhất: Tạo ra cơ sở vật chất, tinh thần để thoả mãn. Trước tiên bao giờ cũng là thỏa mãn nhu cầu cơ bản. Nhu cầu cá nhân được bảo đảm bằng năng lực của cá nhân. Năng lực cá nhân càng cao thì khả năng thỏa mãn càng tốt các nhu cầu cá nhân. Cho nên, phấn đấu tăng cường năng lực bản thân là một giải pháp gốc để thỏa mãn nhu cầu.

Cách thứ hai: Giảm bớt nhu cầu, nhất là những nhu cầu không căn bản, để có thể thỏa mãn bằng các phương tiện vật chất, tinh thần hiện có . Đây là cách dùng cho những người thành đạt, khi đã thỏa mãn tất cả những nhu cầu cơ bản về vật chất và đang phấn đấu cho nhu cầu nâng cao. Khi năng lực của cá nhân càng cao, càng bảo đảm cho thu nhập càng cao theo. Nhu cầu nâng cao không có giới hạn trên và không thể nào được thỏa mãn một cách hoàn toàn. Cho nên, có thể dùng một cách khác để diễn đạt là khi nhu cầu nhỏ hơn năng lực, nói cách khác là không phải mệt mỏi lo lắng vì cuộc sống, người ta sẽ dễ tìm được trạng thái hạnh phúc.

90.1 Phát triển bền vững trong môi trường xã hội.

Phát triển bền vững là một tiêu chí cơ bản của Phúc. Trong nền kinh tế nông nghiệp phúc là con đàn cháu đống. Hậu duệ là sự bảo đảm cho dòng họ, truyền thống cũng như sức lao động. Các công ty, hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội … do người ta sáng lập ra đều có tôn chỉ mục đích phát triển bền vững. “Con hơn cha nhà có phúc”.

Muốn nhà có phúc, muốn rạng danh cha ông phải sáng tạo ra những gì mà cha ông chúng ta vào thời của mình chưa làm được. Không rập khuôn, không giáo điều, không sách vở, không sao chép một cách nhạt nhẽo, sáo rỗng những mô hình đang dần trở nên lạc hậu. Và sau đó đến lượt chúng ta phải tôn vinh sáng tạo của thế hệ trẻ. Phải biết chấp nhận sự đa dạng của cuộc sống vốn như nó hiện hữu chứ không phải như chúng ta muốn.

Tiết kiệm là một cách phát triển bền vững. Tiết kiệm là sử dụng hợp lý, không lạm dụng quá mức cần thiết các nguồn lực. Trong cuộc sống cá nhân không sử dụng quá mức những cái mình cần để cho người khác còn có cái mà dùng. Từ chuyện nhỏ là đóng vòi nước khi không dùng đến, hoặc tắt đèn một cách hợp lý để tiết kiệm điện. Đây là vấn đề chống lãng phí tài nguyên thiên nhiên vốn hữu hạn. Lãng phí không phải là kích cầu.

Tuy nhiên tiết kiệm không có nghĩa là dùng một chiếc điện thoại di động cũ rích để mà tiền công sửa hoá ra lại nhiều hơn tiền mua một chiếc điện thoại mới. Đấy là các mất mát hữu hình. Còn có các mất mát vô hình. Tiết kiệm khi sử dụng một chiếc xe cũ, một bộ quần áo mới lạc hậu để đi tiếp thị tuyệt nhiên không thể coi là tiết kiệm được. Tiết kiệm quảng cáo không phải là tiết kiệm.

Tiết kiệm tiền thưởng cho các phát minh sáng chế, hợp lý hóa sản xuất hoàn toàn không phải là tiết kiệm mà lại là lãng phí, lãng phí nội lực. Tiết kiệm tiền thiết kế, tiết kiệm chi phí giám sát kiểm tra để dẫn đến sự cố công trình lại càng không phải là tiết kiệm mà là tạo điều kiện cho phá hoại, làm hỏng trật tự kỷ cương. Khi giao một khối lượng vật chất khổng lồ vào tay một con người và “tiết kiệm” trong việc trả lương tương xứng đúng mức cho người ấyy thực ra lại là đang lãng phí khủng khiếp. Đây là lãng phí tâm huyết của lao động có chất lượng cao. Một sự sao lãng hay thậm chí chỉ cần thiếu sáng kiến của con người ở vị trí quan trọng ấy cũng gây ra những thiệt hại khôn lường. Một cách diễn giải khác là khi doanh nghiệp mua một cỗ máy lớn hơn, hiện đại hơn, hiệu năng hơn thì người điều khiển nó cũng cần được đầu lư nhiều hơn về mọi mặt trong đó có đào tạo kỹ năng, giáo dục lòng yêu nghề và không bao giờ quên việc cân đối lương bổng một cách hợp lý.

Các nhà chuyên môn và công nhân lành nghệ thích ngồi trong “tháp ngà” để làm việc. Vậy hãy xây “tháp ngà”, tại sao lại không chiều để đạt được hiệu quả lớn nhất cho công việc. “Nhược điểm” rất lớn của những trí thức có tâm huyết là không hề mảy may dính chút bụi bặm danh và lợi, chẳng hề mảy may đòi hỏi ai ban phát lợi lộc cho mình. Họ chẳng bao giờ nghĩ đến khắc phục “nhược điểm cố hữu” đó vì nếu làm như vậy thì họ chẳng còn là họ nữa. Với tư cách là chủ doanh nghiệp bạn cần phải ý thức hơn tất cả những người khác rằng: việc bảo đảm cơ sở vật chất tối thiểu cho người lao động, đặc biệt là những chuyên gia cấp cao là một cách làm hữu ích giúp họ có thể để hết tâm trí vào công việc.

Có một thuật ngữ khác để chỉ sự tiết kiệm một cách chính xác đó là kinh tế. Tiết kiệm là sử dụng các nguồn lực một cách kinh tế.

90.2 Phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.

Ngày nay, phát triển bền vững được hiểu là không hủy hoại điều kiện sống của thế hệ tương lai, để thế hệ tương lai vẫn còn điều kiện duy trì cuộc sống ngày một tốt hơn. Không khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Để cho thiên nhiên có thể tái sinh cân bằng với mức khai thác. Như vậy, bảo vệ môi trường không phải là vì thiên nhiên mà trước hết là vì con người. Rác là một vấn nạn cho phát triển bền vững. Khi sản xuất một sản phẩm, ưu tiên cho các sản phẩm không có phế thải độc hại, không có phế thải, hoặc phế thải có thể tái chế được. Không để sản xuất làm ảnh hưởng đến những người quanh cơ sở sản xuất. Không gây ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm ánh sáng quá mức chịu đựng của mọi người. Không xả khí thải, nước thải chưa qua xử lý ra môi trường xung quanh. Thời thượng cổ khi loài người còn yếu ớt trước thiên nhiên vô cùng lớn, con người ước mong khai thác tự nhiên và chinh phục tự nhiên. Cùng với sự phát triển cả về số lượng cũng như sức mạnh vật chất, tài nguyên thiên nhiên trở nên không phải là vô tận nữa trước sức khai phá của con người. Không phải vô cớ mà các nhà khoa học bắt đầu lo lắng cho số phận nhân loại khi mà loài người chúng ta thống trị thế giới ở quy mô có thể sánh với khủng long. Một biến động nhỏ về thời tiết khí hậu chứ chưa nói đến thảm họa thiên thạch đâm báo trái đất cũng mang đến những thiệt hại lớn về nhân đạo và nhân mạng.

Phát triển bền vững, permaculture, theo Bill Mollison, là một hệ thống được thiết kế để tạo ra môi trường sống một cách bền vững lâu dài cho con người.

The Permaculture Drylands Institute, published in The Permaculture Activist (Autumn 1989):

Phát triển bền vững dựa vào sinh thái làm cơ sở cho việc thiết kế hệ thống liên hoàn sản xuất thực phẩm, nhà ở, các công nghệ tương thích cũng như phát triển cộng đồng. Phát triển bền vững xây dựng dựa trên đạo lý về việc chăm sóc trái đất theo cái cách tương tác với môi trường cùng có lợi cho cả hai bên.

Bay Area Permaculture Group brochure, published in West Coast Permnculture News & Gossip anđ Sustainable Living Newsletter (Fall 1995):

Phát triển bền vững là một khái niệm thực tiễn có thể ứng dụng ở đô thị, ở nông thôn, và trong thsên nhiên. Những nguyên lý của nó cho phép tạo dựng một môi trường sản xuất năng suất cao cung cấp thực phẩm. năng lượng, chỗ ở cũng như các nhu cầu vật chất và phi vật chất khác, trong đó có kinh tế. Quan sát một cách thận trọng các đặc trưng của các mẫu tư nhiên ở một vị trí xác định, nhà thiết kế phát triển bền vững từng bước, học được những phương pháp tối ưu để tích hợp hài hòa việc sử dụng nước, nhà ở và hệ thống năng lượng, trong mối tương quan với cây rừng và cây trồng, cây lương thực và cây lưu niên, vật nuôi và thú hoang, đánh bắt với nuôi trồng thủy hải sản.

Phát triển bền vững, permaculture, đưa vào sử dụng những nguyên lý về kỹ thuật của sinh thái học, của công nghệ tương thích, của nông nghiệp bền vững và cả kinh nghiệm của người dân địa phương.Cơ sở đạo lý của phát triển bền vững là ở việc duy trì trái đất thành một hệ thống ở đó cuộc sống thịnh vượng. Việc này bao hàm cả khả năng tiếp cận của con người tới các nguồn tài nguyên và các nguồn dự trữ nhưng không tích lũy một cách không cần thiết vượt quá nhu cầu về đất đai, quyền lực cũng như của cải vật chất.

90.3 Uớc nguyện xuyên thế hệ

Những gì cha ông chưa làm được thì nay chúng ta làm. Những gì chúng ta chưa làm được thì thế hệ tương lai sẽ làm tiếp. Nhờ vào cái cách ấy ước nguyện đã đi xuyên suốt nhiều thế hệ.

Ước nguyện truyền từ đời này sang đời khác nhờ vào giáo dục. Đó là giáo dục truyền thống. Truyền thống có thể là của một dòng tộc, một làng nghề, một công ty, một địa phương, một vùng đất. Có những ước nguyện giản đơn, có những ước nguyện sâu xa. Có những ước nguyện có thể thực hiện trong một thế hệ. Đó có thể là: có đủ cơm ăn áo mặc, được học được hành. Có những ước nguyện phải nhiều đời mới làm được. Đó là bình đẳng bác ái, là độc lập tự do…

Tự nhiên cũng có cái cách để chuyển những thông tin di truyền một cách có định hướng tùy theo hoàn cảnh xã hội thông qua việc đóng mở các gien. Một ví dụ: người mẹ ăn ít trong lúc mang thai thì đứa con khi ra đời tự nhiên mở các gien tăng cường sản xuất insulin có chức năng điều khiển làm giảm đường huyết. Lúc này dù có bồi dưỡng đến mấy đứa trẻ cũng không chịu ăn, kết quả là đứa bé nhỏ con hơn những anh em của nó. Trầm cảm hay vui vẻ lạc quan cũng có một sự chuyển thông tin gần giống như thế thông qua sự cân bằng các chất hormon trong cơ thể. Không có một cái gì chúng ta đang làm, dù tốt dù xấu lại không ảnh hưởng tới thế hệ sau. Cơ chế của nó có thể được hoặc chưa được giải thích tốt, nhưng sự chuyển giao xuyên thế hệ ấy vẫn xảy ra cho dù chúng ta biết hay không biết, ý thức hay không ý thức được về quá trình ấy.

91 . BẢO ĐẢM CHO QUYỀN ĐƯỢC HỌC

Không chỉ phụ huynh mà gần như mọi người ai cũng cảm thấy không an tâm về cách giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Với nền giáo dục chưa phải là hoàn thiện như hiện nay không có gì bảo đảm là những học sinh có số điểm cao nhất sẽ là ưu tú nhất. Thực tế hiện nay cho thấy những người thành đạt nhất trong xã hội thường là người có học vấn trung bình khá . Trong khi đó thi tuyển hiện nay cũng như việc đánh giá học sinh trong quá trình học vẫn dựa trên kiến thức. Có thể đây là lý do làm cho những phần tử ưu tú nhất chưa chắc đã đỗ đại học. Và cũng có thể đây là lý do làm cho những học sinh giỏi nhất trong trường vẫn chưa phải là những người thành đạt nhất sau này trong xã hội.

Một khía cạnh khác, học sinh trượt đại học sẽ được học gì và học ở đâu? Đây là câu hỏi làm nặng trĩu lòng không chỉ nhiều bậc phụ huynh, biết rằng có những con người có thể thành đạt mà không cần tốt nghiệp đại học, trong đó có Albert Einstein hay Bill Gates, nhưng con em chúng ta có phải ai cũng giàu trí lực và nghị lực như thế.

Quyền được học là quyền được tiếp cận tri thức nhân loại. Có học vấn là được đứng trên vai những người khổng lồ về trí tuệ. Cho dù học để biết tư duy mới là để làm, nhưng tư duy là tư duy trên những cái đã biết. Vì thế cho nên cần có một ngưỡng kiến thức tối thiểu để có thể tư duy sáng tạo. Giống như là muốn sáng tạo trong tin học thì phải được học những kiến thức tối thiểu về lập trình thì mới có thể nói đến sáng tạo trong lĩnh vực này. Trong những lĩnh vực khác cũng tương tự, hàng hóa của Việt Nam có phong phú đa dạng hay không là tuỳ thuộc vào thế hệ trẻ của chúng ta biết cái gì và sau đó mới là làm cái gì.

Đi học là một giải pháp chống thất nghiệp. Cho dù đã “quá tuổi” hay còn “trong tuổi” đi học, người bị thất nghiệp khi đi học tự nhiên họ không còn là người thất nghiệp nữa mà trở thành học sinh thành sinh viên, tu nghiệp sinh… Đó là chưa kể một quá trình đào tạo tốt hơn hay ít ra là dài hơn sẽ giúp cho thế hệ trẻ thích nghi tốt hơn trong thế giới đa dạng và biến đổi rất nhanh ngày nay, đồng thời nhờ đó bộc lộ được phẩm chất và tài năng. Đây là một nguyện vọng chính đáng, một nhu cầu từ bản thân cuộc sống. Sáng tạo và học vấn là hai vấn đề có liên quan khăng khít với nhau. Thiếu học vấn thì dù có sáng tạo đến mấy cũng sẽ không thể sáng tạo những vấn đề tiếp cận với mũi nhọn khoa học hay các công nghệ nguồn của nhân loại. Muốn sáng tạo thì trước tiên phải được biết và được hiểu về vấn đề mình sẽ sáng tạo. Đây là nhu cầu tiếp cận ngưỡng tối thiểu về nhận thức để sáng tạo. Ngưỡng tối thiểu càng cao giá trị sáng tạo càng lớn, ở các quốc gia phát triển, đại học đang được phổ cập. Người thất nghiệp chỉ thực sự là thất nghiệp khi họ không còn muốn đi học nữa.

Trên nguyên tắc, những phát minh, sáng chế mang tính đột phá thường xuất phát từ các đại học hay viện nghiên cứu nên có mức độ sáng tạo rất cao nhưng thường ít có hiệu quả kinh tế. Những phát minh, sáng chế tiếp theo của số đông quảng đại quần chúng, những người có học vấn thấp hơn hàng ngày tiếp xúc với cuộc sống nên những sáng kiến tuy chỉ là những hiệu chỉnh nhỏ để hoàn thiên những phát minh sáng chế lớn, tuy mức độ sáng tạo thấp nhưng lại có hiệu quả kinh tế cao vì công nghệ đã rất gần với cuộc sống và khả thi. Tạo cơ hội cho những người trẻ tuổi tiếp cận với kho tàng phát minh sáng chế, tiếp cận với kiến thức của thời đại là một cách làm gia tăng tính ứng dụng cao của phát minh sáng chế vào thực tiễn sản xuất.

Một số điều ít được chú ý đó là doanh nhân thường không phải là nhà phát minh sáng chế. Họ là người biết cách ứng dụng và sử dụng phát minh sáng chế để tạo ra việc làm cho xã hội. Trong lớp học, doanh nhân tương lai thường là người học trung bình hoặc khá chứ ít khi giỏi. Do không biết học vẹt, những doanh nhân tương lai hiện còn đang trẻ đã bị cơ chế thi tuyển loại khỏi trường lớp một cách vô tình. Nếu không cho các doanh nhân tương lai của chúng ta được học để tiếp cận cái mới thì chỉ mới sẽ mãi khó khăn trong quá trình đi đến với thực tiễn sản xuất. Nếu chọn lọc qua thi tuyển theo tiêu chí học giỏi, những nhà doanh nhân tương lai thường bị trượt trong các cuộc thi tuyển. Đổi mới đã khẳng định chân lý rằng không phải xã hội không có hàng hóa mà thực chất là không có những hàng hóa mà xã hội cần. Kiến thức hiện đang dư thừa và cần giảm tải trong nhà trường nhưng cơ chế không phải lúc nào cũng tạo điều kiện cho những người biết cách tiêu hoa kiến thức thành của mình để rồi ứng dụng vào thực tế.

Phải có thêm cơ hội cho các thế hệ trẻ của chúng ta được học tập.

Bằng tú tài là nhu cầu học vấn của thế kỷ 20, nhu cầu cơ bản về học vấn của thế kỷ 21 sẽ phải là đại học. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức đại học chính là học nghề.

Không nên cầu toàn là phải học ở các trường chuẩn quốc gia hay thế giới. Học đại học nào cũng tốt. Trên phương diện kinh tế để có thể quá độ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp chứ chưa nói đến kinh tế tri thứ, giáo dục đại học tất yếu phải chuyển sang giáo dục dại chúng. Theo giáo sư Phạm Phụ: “Trên phương diện xã hội, phát triển con người ngày nay được hiểu là mở rộng khả năng và sự lựa chọn của họ. Con người không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích tự thân của sự phát triển. Vì vậy đi học còn là để thỏa mãn sự hiểu biết và là quyền của con người.

Khác với muôn loài, loài người có thời gian nuôi con kéo dài nhất. Sự đảm bảo vật chất cũng như tinh thần và kiến thức, hay còn gọi là sự chuyển giao cho các thế hệ con cháu thông tin không nằm trong gien di truyền nhưng cần thiết cho cuộc sống, đã giúp cho loài người chúng ta trở nên mạnh mẽ nhất so với muôn loài. Một đất nước, một dân tộc, một gia đình, muốn có được sự vượt trội cho thế hệ tương lai cần ý thức rõ rệt về việc bảo đảm cho con em mình quyền được học, quyền được dạy dỗ nên người.

Văn Giáo kể lại: Cách đây 30 năm khi tôi còn là một giáo sinh nhưng lớp chúng tôi được đặc cách tham dự chương trình tổng kết thường niên của một tổ chức chuyên ngành giáo dục rất lớn mạnh và nhiều uy tín lúc đó. Vào buổi chiều ngày cuối cùng, khi hội nghị chuẩn bị thông qua quyết định “đuổi học đối với học sinh vô kỷ luật đã qua ba lần cảnh cáo và đã có mời phụ huynh”, thì chẳng hiểu ma lực nào đã khiến tôi giơ tay xin phát biểu: “Nếu chúng ta coi mình là những nhà giáo dục chuyên nghiệp thì sau khi đuổi học các em đó biết đi đâu?”.

Phải đảm bảo một sự giáo dục tốt nhất từ thể trạng, tâm thế và học lực. Ở đây không cần phải có sự tuyển, lựa hay là chọn. Đơn giản chỉ là vì tương lai con em chúng ta. Đó là chưa kể đến việc cần thiết của giáo dục cho bộ phận lớn thanh niên có tốc độ học tập chậm hơn những người đồng trang lứa khác. Giống như với một bà mẹ, những đứa con yếu hơn về thể chất sẽ phải được để chăm sóc tốt hơn. Và cũng với cái triết lý ấy, học càng kém lại càng cần phải được lưu tâm dạy dỗ nhiều.

Đó là chưa kể đi học là giải pháp giảm thiểu tệ nạn xã hội. “Nhàn cư vi bất thiện”. Và thực ra khi chưa có đủ chỗ cho mọi người làm việc được đúng như cái ước nguyện của mình thì gom vào lớp học để mà dạy dỗ vẫn còn hơn thả “tự bơi” ngoài xã hội.

92. QUY LUẬT ĐỒNG GIÁ TRỊ

Chuyện thằng Bờm:

“Thằng bờm có cái quạt mo.

Phú ông muốn đổi ba bò chín trâu,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu,

Phú ông muốn đổi ao sâu cá mè,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè,

Phú ông muốn đổi ba bè gỗ lim,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim,

Phú ông muốn đổi con chim đồi mồi,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi,

Phú ông đánh đổi nắm xôi Bờm cười.”

Quạt mo và nắm xôi là ngang giá. Việc trao đổi cái quạt mo lấy ba bò chín trâu, lấy ao sâu cá mè, hay là lấy ba bè gỗ lim là chuyện không có. Ngay cả con chim đồi mồi là vật gần ngang giá hơn nhưng cũng không an toàn. Nắm xôi đúng là đồng giá trị với cái quạt mo. Trao đổi đúng theo đồng giá trị là rất an toàn.

93. CHÍNH DANH QUÂN TỬ

Khi nói đến 10 nhà tư tưởng lớn của nhân loại người được kể đến đầu tiên là Khổng Tử. Tổng thống Mỹ R.W.Reagan đã từng nhận định: “Học thuyết Khổng Tử ra đời và được lưu truyền vì đã đưa ra được những nguyên tắc đối nhân xử thế của cả nhân loại”.

Khổng Tử dạy học trò: người có đức là hạng quân tử, còn kẻ vô luân là hạng tiểu nhân. Trên mức quân tử là các bậc toàn nhân, thiện nhân và tột cùng là thánh nhân. Quân tử khác tiểu nhân ở chỗ:

Quân tử thấy nghĩa thì làm, tiểu nhân thấy lợi thì làm.

Quân tử dựa vào mình mà thành đạt, tiểu nhân dựa vào người khác nên ít mấy thành công.

Quân tử hòa mà bất đồng, tiểu nhân đồng mà bất hòa.

Quân tử tuân thủ khuôn phép, tiểu nhân tự ý làm bừa.

Quân tử thanh thản mà thư thái, tiểu nhân ngạo mạn mà lo âu.

Quân tử làm dễ nói khó, tiểu nhân nói giỏi làm dở.

Quân tử mừng khi người khác thành đạt, tiểu nhân kèn cựa, đố kỵ người hơn mình.

Thuyết chính danh là một phát kiến của Khổng Tử. Ông bảo: “Danh với thực phải hợp nhau, nếu không hợp nhau thì gọi tên ra người ta sẽ không hiểu, lý luận sẽ không xuôi, mọi việc sẽ không thành, lễ nhạc, hình pháp không định được mà xã hội sẽ hỗn loạn.

Ông vua là người được trời giao phó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn, đủ mặc, làm gương cho dân, dạy dỗ dân, để dân được sống yên ổn. Làm tròn nhiệm vụ đó là danh xứng với thực, nếu không thì không đáng gọi, không thể gọi là vua được. Muốn được gọi là vua, thì phải theo cái tiêu chuẩn vua. Ông vua nào không theo tiêu chuẩn đó thì không gọi là vua được”

Về sau, thuyết chính danh của Khổng Tử phát triển khái quát thành: vua ra vua, tôi ra tôi, thầy ra thầy, trò ra trò, quan ra quan, dân ra dân, chủ ra chủ, thợ ra thợ…

Bác Hồ cũng đã đánh giá:”Đạo Khổng không phải là một tôn giáo; nói cho đúng hơn đó là một môn dạy về đạo đức và phép xử thế.”

94 . THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

Ở quy mô gia đình có gia quy, ở trường gọi là nội quy, ở một nước gọi là pháp luật. Tất cả những quy định đó mang tính gìn giữ kỷ cương nội bộ mà khi nằm trong tổ chức thì phải tuân theo, còn không thì hãy ra khỏi tổ chức.

Cũng bởi một lẽ khác nữa, công ty cũng là một pháp nhân tức là một tổ chức. Đã là tổ chức thì phải có kỷ luật của nó. Với tư cách chủ doanh nghiệp chính bạn sẽ là người dầu tiên phải tuân theo những quy định do bạn đề ra. Bởi vì khi bạn phá rào những qui định của chính bạn tức là bạn đang làm gương cho mọi người bắt chước mà xé rào.

Làm chủ doanh nghiệp bạn đừng quên rằng mình là chủ, là người đại diện chịu trách nhiệm trước pháp luật cho nên bạn phải tìm hiểu và tuân theo những gì Pháp luật quy định. Nếu thấy những quy định của luật pháp không tạo điều kiện cho công việc mà bạn dự định kinh doanh thì bạn có quyền không làm cái công việc mà bạn dự định đó chứ tuyệt đối không nên làm trái quy định của pháp luật. Nếu một địa phương có những luật, những lệ mà bạn thấy là không hợp thì bạn có thể chọn một địa điểm khác để kinh doanh không nhất thiết là cứ phải làm đúng cái việc đó ở ngay địa điểm không thuận lợi ấy để có thể mang họa vào thân.

Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận xét: “Khi khuôn khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh, còn quá nhiều can thiệp từ các cơ quan hành chính vào hoạt động doanh nghiệp, hướng đi của một doanh nhân rất dễ bị bóp méo, theo hướng kinh doanh không bền vững, chạy theo các nguồn lợi ngắn hạn và khai thác khe hở của pháp luật”. Chính vì vậy, theo ông Đức: “Nhiều khi người ta tưởng đạo đức kinh doanh mâu thuẫn với kết quả kinh doanh vì kinh doanh là phải khôn ngoan, đôi khi phải lách luật. Kinh doanh đúng là phải tận dụng cơ hội nhưng phải dựa trên nền tảng lành mạnh. Vấn đề là xây dựng, tổ chức và quản lý kinh doanh dựa trên tầm nhìn ngắn hạn hay lâu dài”. Theo ông Đức, đạo đức kinh doanh là khả năng tạo ra lợi nhuận dựa trên năng lực cá nhân, không phải lợi dụng sự yếu kém của luật pháp. Bạn nên nhớ rằng luật pháp vẫn bị phụ thuộc vào người thừa hành công vụ. Khi những quyết định của luật pháp trong một mảng nhất định của công việc kinh doanh của bạn có những điểm không rõ ràng khiến người thừa hành công vụ xử thế nào cũng được nếu cảm thấy không an tâm, thì tốt nhất là bạn không làm mảng kinh doanh đó chứ nhất định không được mua chuộc người thừa hành công vụ dù là dưới hình thức nào đi nữa. Bởi vì đi đêm sẽ có ngày gặp ma. Khi tình thế thay đổi theo hướng xấu hơn cho bạn về mặt pháp lý bạn sẽ vướng vào tình thế bỏ thì thương vương thì tội. Nếu tiếp tục làm thì sai pháp luật. Mà bỏ thì thành tiếc công sức xây dựng bấy lâu, khi bạn làm một việc sai pháp luật thì tức là đang trao cho đối tác, đồng sự hoặc nhân viên dưới quyền của bạn một bằng chứng bất lợi cho bạn, để rồi một ngày “đẹp trời” khi các bên tranh chấp hay cãi nhau bạn sẽ bị ép nhượng bộ bởi chính những bằng chứng tự bạn tạo ra đó. Những thiệt hại do phải nhượng bộ thường lớn hơn nhiều lần những cái lợi do hành vi “lách luật” của bạn mang lại. Trong tình hình tham nhũng là vấn nạn tràn lan như hiện nay, bạn làm ăn đúng và chân chính vẫn có thể bị đánh phá, nữa là làm sai. Doanh nhân Mỹ thường coi thuế vụ như một khâu trong quá trình sản xuất và biết sử dụng nó vào công cuộc kinh doanh. Bởi ai kinh doanh và kinh doanh ở đâu, ở nước nào cũng phải đóng thuế cả. Có thể chọn những lĩnh vực ưu đãi thuế nhưng tuyệt đối không nên trốn thuế dù là dưới bất cứ hình thức nào.

95. GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

Như đã trở thành quy luật của cuộc sống, nếu bị lừa khi trao đổi thì hầu như là do hám lợi. Tức là bị người khác mang cái lợi trước mắt ra nhử. Giống như con cá, nếu không ham mồi giun thì sao lại bị mắc câu. Mang một giá trị thực, dù là nhỏ bé, muốn đổi một cái to lớn nhưng không bao giờ đến là một mất mát.

Mọi ngôn từ khoa trương đều chứa ít nhiều giả dối. Cho nên, lao theo hư danh là chuốc họa vào thân. Người hiền là người lấy cái sự lành làm trọng. Làm gì thì cũng coi an toàn là bạn, tai nạn là thù. Không bon chen quá đáng. Không muốn cảnh chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm. Không biến mình thành con thiêu thân theo danh và lợi.

Theo Oscar Wider: “Sớm hay muộn, người ta đều phải trả giá cho những gì đã làm”. Giống như lúc dẫm lên lưỡi cuốc thì việc bị cán cuốc quật ngay trán cũng là điều dễ hiểu. Trong khi được toàn quyền tự do lựa chọn hành động thì điều quan trọng cần biết là chúng ta không lựa chọn được hậu quả của hành động đó. Trong khi làm một việc phạm pháp thì không lường được hậu quả sẽ ra sao nếu bị phát giác.

Vẫn còn một số người nhầm tưởng rằng trong nền kinh tế thị trường thì cứ việc làm giàu bất cứ giá nào. Đó là một sự nhầm lẫn lớn khi cho rằng hiện nay vẫn còn có thể kinh doanh theo kiểu hoang dại, sản phẩm của thế kỷ 19, không cần và bất chấp pháp luật. Từ đó, những người ấy mở rộng kinh doanh bằng những hoạt động phi pháp như buôn lậu, trốn thuế với sự tiếp tay của một số cán bộ nhà nước biến chất và tưởng đó là chỗ dựa bền vững. Thực tế chứng tỏ không một sự gian lận nào có thể kéo dài mãi mãi mà không bị bại lộ và trước sau gì những công ty làm ăn phi pháp cũng phải đối mặt với pháp luật. Ở Việt Nam cũng thế và ở các nước Âu Mỹ cũng vậy. Những vụ gian lận tài chính hàng tỷ đô la của những tập đoàn có bề dày kinh doanh như Enron, WorldCom… ở Mỹ cuối cùng cũng bị phanh phui.

Doanh nhân cũng như những người muốn tiến xa trên con đường thành đạt phải khẳng định được ta là ai và sẽ đi đến đâu? Nói một cách khác, người chủ doanh nghiệp phải xác định lý tưởng, mục tiêu lâu dài và phương thức hành động để đi đến mục tiêu đó. Kinh nghiệm cho thấ, ở những công ty phát triển bền vững, người lãnh đạo luôn nhấn mạnh đến tính hợp pháp và tính đạo đức của các phương tiện và biện pháp khi tiến hành kinh doanh. Có những công ty còn xây dựng những chuẩn mực đạo đức kinh doanh và truyền đạt đến từng thành viên.

Sự phát triển kinh tế của đất nước là một động lực đòi hỏi, tạo điều kiện hình thành và tôn vinh một đội ngũ doanh nhân trung thực, nêu cao trách nhiệm và giá trị tinh thần trong kinh doanh. Với tư cách là những doanh nhân thành đạt, chúng ta phải lên án những hoạt động lừa đảo, phạm pháp trong kinh doanh bất cứ ở đâu, để cho cái tốt, cái thiện được phát triển.

Nhớ lời nhân vật huyền thoại Bao Công đã nói:”Điều quan trọng không phải là có bao nhiêu tiền hay giàu sang cỡ nào, mà cái chính yếu là được yên thân mà hưởng phước, không vướng vào con đường tù tội, lao lý”.

Như Eleanor Roosevelt đã nhận xét: “Không ai làm tổn thương anh được nếu không có sự thỏa thuận của anh”. Và nói như Gandhi: “Không ai làm ta mất lòng tự tôn nêu ta không đem nó đi cho”. Chính sự tự nguyện, cho phép, bằng lòng để cho những cái gì đó xảy đến, chúng làm ta bị tổn thương hơn tình trạng nguyên vẹn lúc ban đầu.

Điều cần thiết là biết làm những việc chính danh. Biết cách tránh xa những việc mớ ám khuất tất. Khổng Tử khẳng định: “Danh phận lớn hơn công đức là họa”.

Advertisements