LIÊN KẾT

Cái riêng quyết định cái chung

Vladimir I.Lenin

Cư dân vốn thích sống thành làng thành xóm. Người ta cứ thích sống tụ lại thật đông tạo nên các đại đô thị. Ước nguyện sống chung với những người xung quanh là nhu cầu tự thân của mọi người. Kết quả của sự tích tụ cư dân là những mối quan hệ gần gũi của cộng đồng cùng với sự phân công nghề nghiệp đã tạo thành một kiểu liên kết. Liên kết tạo nên sự sung túc cho xã hội. Nhờ đó lịch sử phát triển của xã hội cũng là lịch sử của sự hợp tác và lòng tin. Trong đời sống, nếu như có một việc cụ thể nào đó mà người ta còn chưa làm ăn chung với nhau được là do chưa thấy được cái lợi đem lại từ sự hiệp đồng ấy. Nói khác đi là chỉ có thể liên kết khi các bên cùng có lợi. Tuy nhiên, lòng tin không phải tự nhiên mà có. Lòng tin là kết quả của một quá trình xây dựng.

Lợi ích của mỗi cá nhân là động lực của hiệp đồng. Đảm bảo lợi ích thành viên là mục đích tối thượng của hợp tác. Người ta không bao giờ hợp lực lại với nhau khi không được hưởng cái lợi nào từ đó. Cho nên đảm bảo lợi ích cho từng thành viên là việc quan trọng nhất cần làm trước tiên. Muốn đảm bảo lợi ích cho từng thành viên một cách chính xác cần xây dựng cơ chế phân biệt chính xác, rạch ròi đóng góp và hưởng thụ từ đóng góp. Có mối liên hệ giữa nổ lực cá nhân và tập thể. Không làm chung một cách chung chung, không chia đều bình quân. Trong khi quá trình hiệp đồng không bao giờ có được sự đóng góp hoàn toàn đồng đều. Cho nên cái cơ chế phân bổ lợi nhuận theo đóng góp và theo trách nhiệm sẽ quyết định tính bền vững của liên kết và hợp tác. Trong kinh doanh, trách nhiệm là trách nhiệm tài chính, không có trách nhiệm chung chung.Hưởng thụ và trách nhiệm bao giờ cũng song hành. Thiếu một trong hai vế sẽ bị khập khiễng mất cân đối dẫn đến sụp đổ hệ thống hợp tác.

Liên kết là hiệp đồng vì lợi ích của mỗi thành viên tham gia vào công cuộc làm ăn chung ấy. Cho nên liên kết bền vững bao giờ cũng phải là làm ăn cùng có lợi. Có nghĩa là liên kết trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm sự độc lập của mỗi thành viên. Độc lập là nền tảng của sự hiệp đồng. Thiếu độc lập là không có liên kết cũng như hợp tác. Lịch sử kinh tế xã hội là lịch sử phát triển của các định chế trung gian đảm bảo giao dịch. Liên kết là những giao dịch lớn, phức tạp và thường gồm 2 phần:

Quy định chung theo pháp luật, đây là những quy định tối thiểu mà các thành viên cần phải tuân theo. Cùng với thời gian số lượng các quy định tối thiểu được chọn lọc, hiệu chỉnh… tuy nhìn chung là tăng lên nhưng vẫn chỉ là tối thiểu. Khi quy định của pháp luật chưa đủ mức tối thiểu thì xác xuất tồn tại của các pháp nhân gồm nhiều thành viên là rất thấp do tính đảm bảo giao dịch không đủ độ tin cậy.

Tự quy định: phần quy chế tự quy định mới thực sự quan trọng bởi vì cần có bản thảo xây dựng giữa những thành viên. Giống như là một phần mềm “Hệ điều hành”, phần tự quy định sẽ được tự xây dựng từ đơn giản đến phức tạp, từ khái quát đến cụ thể.

Kết quả của việc liên kết chặt chẽ giữa các thành viên khác nhau về chất sẽ tạo ra một hệ thống. Công ty là một hệ thống. Đặc trưng của hệ thống là sự tích hợp đầy đủ của những bộ phận cấu thành cần thiết. Công ty là một hệ thống tạo ra giá trị gia tăng mới mà từng thành viên không có, đồng thời do khác nhau về chất, vai trò của mỗi thành viên trong hệ thống là không thể thay thế.

Tập hợp lỏng lẻo của những thành viên giống nhau gọi là hợp tác. Hợp tác không phải là hệ thống, đó là do việc tập hợp các thành viên giống nhau và kết quả cuối cùng là phép cộng giá trị của các thành viên, không tạo nên giá trị gia tăng. Tuy nhiên phép cộng giá trị ấy nếu vượt qua một ngưỡng nhất định về lượng sẽ dẫn đến sự chuyên biệt hóa và kết quả của nó là một sự thay đổi về chất. Khi đó phép cộng giá trị sẽ tự nhiên đổi thành phép nhân giá trị. Liên kết có chuyên biệt hóa sẽ trở thành hệ thống.

Có một giá trị trung bình xã hội. Giá trị đó là một đơn nguyên, hay là giá trị cơ bản bằng 1. Khi nhân với một con số lớn hơn 1 thì giá trị tăng lên. Khi nhân với một số nhỏ hơn 1 thì giá trị giảm đi. Đối với mỗi cá nhân cái giá trị đó là năng lực. Khi năng lực cá nhân của bạn càng lớn càng có nhiều người muốn làm ăn chung với bạn. Họ hy vọng vào năng lực của bạn.

Hệ thống là phép nhân giá trị, và cũng chính vì thế, bạn sẽ mất sạch khi liên kết với đối tác có giá trị bằng 0. Đó là bởi vì tích của những con số, trong đó chỉ cần có một con số 0, dù cho số khác có thể rất lớn thì giá trị của tích vẫn bằng 0. Trong khi xây dựng và vận hành hệ thống, tuyệt đối không kết nạp với những đối tác không có giá trị. Bạn phải biết cách chọn lọc đối tác kỹ lưỡng và loại trừ thật cẩn trọng để không bị lẫn trong hệ thống của bạn những thành viên có giá trị nhỏ hơn 1 và điều đặc biệt cần lưu ý là cần phải loại trừ ngay khỏi hệ thống của bạn những thành viên không có giá trị.

Hợp tác là phép cộng giá trị.Bạn có thể hợp tác với những đối tác rất yếu kém so với bạn mà giá trị chung vẫn tăng lên. Trong liên kết bạn không bao giờ bị thua thiệt. Giá trị của hợp tác không bao giờ tăng đột biến nhưng không bao giờ mất đi. Trong hợp tác nhỡ bạn gặp phải những đối tác có giá trị bằng 0 thì bạn cũng chẳng bị mất mát gì. Bạn phải xác định rõ đối tác của bạn để chọn hình thức liên kết. Khi bạn chỉ có một giá trị nhỏ bé bạn đừng ngại. Bạn hãy chọn giải pháp hợp tác. Hợp tác giúp bạn có đủ quy mô tương xứng để làm ăn chung với những đối tác lớn. Mọi người khi đó không còn sợ bị thiệt thòi khi làm ăn với bạn.

Lịch sử là lịch sử phát triển của những phần chung của toàn xã hội không thuộc về riêng một ai nhưng lại thuộc về tất cả mọi người. Tuy nhiên cái phần chung có lớn hay không là nhờ sự biệt hóa và đa dạng trong sự phát triển từng cái riêng đặc thù có giá trị bổ sung cho nhau của mỗi thành viên trong sự liên kết.

Cũng giống như tỷ lệ diện tích nhà và đường đi trong một khu dân cư.Đường là của chung và nhà là của riêng. Không có con đường để mọi người đi chung không hình thành nên khu dân cư. Mà khu dân cư toàn là đường không có nhà thì cũng chẳng còn là khu dân cư nữa. Tỷ lệ thích hợp riêng chung là từ 9/1 đến 7/3. Tức là riêng chiếm từ 70% đến 90%, chung chiếm từ 10% đến 30%. Khi cái riêng nhiều hơn 9 phần thì cái chung quá nhỏ bé làm yếu đi sức mạnh tập thể. Khi cái chung lớn hơn 3 phần thì làm giảm động lực lao động của các thành viên. Trong mối tương quan lợi ích chung và riêng, thì riêng phải lớn hơn chung. Cái riêng là động lực là lực đẩy cho hoạt động. Chung là cơ sở của liên kết. Không có cái riêng thì lực đẩy cho sự liên kết không còn. Liên kết là hiệp đồng giữa những đơn nguyên, những cái giá trị riêng. Không có cái giá trị riêng thì lấy gì mà liên kết. Không có cái riêng thì cái chung cũng sẽ không có bởi vì không có cái giá trị riệng thì sự liên kết cũng chỉ là phép cộng hay là phép nhân của những con số không.

CÁC NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ VỚI ĐÔNG NGƯỜI

ĐƯỢC LÒNG NGƯỜI

9. BIẾT, HIỂU VÀ NHẬN THỨC

Thực tế chất chứa nhiều điều lạ lùng hơn cả hư cấu.Biết chưa chắc đã hiểu. Hiểu chưa chắc là đã nắm được các nguyên lý. Nắm được nguyên lý chưa chắc đã ý thức. Khi nghe người khác một cách sâu sắc sẽ phát hiện ra những sự khác nhau rất lớn trong nhận thức của mỗi bên. Đồng âm vẫn có thể dị tự, đồng sàng vẫn có thể dị mộng. Nói giồng nhau nhưng vẫn có thể không cùng ngôn ngữ.

Không dễ biến đổi mình cho phù hợp với người. Lại càng không thể cải biến người cho phù hợp với mình. “Núi sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Cho nên để chung sống được với nhau được tốt nhất là hòa. Được lòng người nói một chữ cũng là hòa. Hòa là hòa hợp, hòa giải, hòa đồng và nhìn rộng ra cũng có thể hiểu là hòa nhập nữa. Và nhất là trong kinh doanh thì hòa được hiểu là “hòa khí sinh tài”.

Những quan niệm khác biệt trong cách ứng xử của mỗi dân tộc có gốc rễ từ truyền thống văn hóa nhiều khi lại trở thành rào cản trong giap tiếp kinh doanh. “Suy bụng ta ra bụng người” là sai lầm phổ biến. Nhất là khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, có phải ai cũng biết chấp nhận người khác như họ vốn vẫn thế chứ không phải như bạn muốn.

Sự khác nhau cũng được đánh giá cao khi người ta cố gắng làm việc cùng nhau trong sự tùy thuộc lẫn nhau, ghi nhận thiện chí cũng như nỗ lực của đối tác với mình. Chuyện kể rằng: “Chú người gỗ Pinochio bị lạc đường ngồi trên chiếc lá sen. Chú rất đói bụng. Một con bụ hung mang đến cho chú một cái rễ cây thối, món khoái khẩu nhất của bọ hung. Nhưng rễ thối thì làm sao mà ăn được. Nhưng đây là món khoái khẩu nhất của bọ hung. Bọ hung đã hết lòng với chú người gỗ. Nhưng chú người gỗ Pinichio không được hưởng dự tốt bụng của bạn”.

Rất trịch thượng nhưng không tự ái. Kiêu hãnh phô trương của cải, tài sản và quy mô kinh doanh, thẳng thắn là đặc trưng của người Âu Mỹ. Người Mỹ thích nhanh. Khi thương lượng người Mỹ hay có thái độ như là bạn đang có may mắn được chiếu cố và thúc bạn làm nhanh lên.

Người Mỹ rất hay khen nhau. Từ chiếc áo sơ mi đẹp, mái tóc mới hoặc những vấn đề quan trọng hơn. Một ngày hai người Mỹ làm việc chung trong một văn phòng từ nhiều năm có thể khen nhau đến mấy lần. Đối với người lạ, việc khen nhau lại càng nhiều hơn. Đối với người Âu Mỵ như thế không phải là giả dối. Người Âu Mỹ không thích nói ghẹo.

Thị trường Âu Mỹ thể hiện rất rõ quan điểm “ăn chắc, mặc bền” trong tất cả quan hệ hợp tác làm ăn. Họ sành điệu, bảo thủ và thường trung thành với giá trị mà họ đã chọn. Tại Châu Âu một khi hàng hóa nhập khẩu đã vào được một nước và được thừa nhận thì cả cộng đồng còn lại cũng chấp nhận. Cái khó là doanh nghiệp Việt Nam phải giữ được sự ổn định của các chỉ tiêu về tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật mà các nhà nhập khẩu Châu Âu hay Mỹ đề nghị.

Và bạn nên nhớ rằng “bút sa gà chết”. Ký sai ráng chịu. Không có chuyện ký đại rồi tìm cách né sau. Với sự giúp đỡ của luật sư, người Mỹ cân nhắc câu chữ kỹ lưỡng, thường dùng các hợp đồng chuẩn bị sẵn từ trước và sẽ chơi nhau từng chữ. Ngược lại, một người Mỹ hiểu Châu Á có thể có cách hành xử có khi còn uyên thâm hơn cả dân Châu Á nếu xét về độ tinh tế.

Nhún nhường là các vẻ dễ thấy nhất khi lần đầu tiếp xúc với người Việt. Người Việt khi nói chuyện có thói quen tự hạ mình xuống như một hình thức của sự khiêm nhường. Ngược lại, người Mỹ nói chuyện lại tự nâng mình lên. Đó là do người Mỹ rất coi trọng việc tiếp thị, mà cái trước tiên nên tiếp thị là bản thân mình, và trong tiếp thị khiêm tốn là đại kỵ. Cười trừ là cái cách mà người Việt ưa dùng khi mà đã nghe thấy rất rõ nhưng chưa hiểu đối tác ẩn ý muốn gì hoặc khi cảm thấy mình có lỗi. Tuy nhiên không phải người Âu nào cũng cảm nhận được đúng nụ cười của người Việt. Và một xếp Tây rất dễ cáu kỉnh khi phê bình mà cấp dưới không tỏ ra ăn năn mà lại cười, vì không hiểu đó là cười gì, gặp lúc không may có khi họ hiểu nhầm là cười nhạo.

Người Mỹ hay nhìn chằm chằm vào mắt người đối thoại và đặt nhiều câu hỏi tỏ rõ sự quan tâm. Trong khi đó người Việt ít khi nhìn thẳng vào mắt người đối thoại vì ngại rằng như thế là dò xét, thiếu lịch sự. Nhưng người phương Tây lại hiểu như vậy là người Việt đang nói dối hay dấu giếm một việc gì đó.

Một cái vỗ vai thân tình đối với người Việt đôi khi có thể bị hiểu lầm hoặc có thể bị coi là không tốt trong con mắt của người phương Tây. Trong khi với tầm vóc nhỏ nhắn và trông trẻ hơn tuổi, người Việt lại rất dị ứng với người Âu khi họ xoa đầu, một kiểu tỏ ra thân mật.

Không rõ ràng là đặc trưng của các bản hợp đồng do người Việt chấp bút soạn thảo. Nó có thể có lợi cho phía ta nhỡ khi mình không thực hiện đúng hợp đồng nhưng không có lợi khi đối tác vi phạm.Với quan niệm “được vạ má sưng” nhìn chung thương nhân Việt thường ít coi trọng tính pháp lý của hợp đồng và ít mong thắng trong thiếu kiện, nên khi ký hợp đồng người Việt thường dồn các rủi ro nếu có cho phía đối tác, còn mình ăn ít một chút cũng không sao.Điều này có nguồn gốc từ hoàn cảnh kinh tế Việt Nam. Doanh nhân đi kiện mấy ai thắng bao giờ, mà nếu có thắng thì việc thi hành án cũng rất khó khăn. Nhưng một khi đi ra với thế giới thì cũng phải làm quen dần với não trạng ưa kiện tụng, của văn hóa Âu Mỹ. Nhìn từ một góc độ khác, việc ưa kiện tụng là biểu hiện sự tin cậy của doanh nhân phương Tây vào những người “cầm cân nảy mực”

Thay đổi theo tình thế ngắn hạn. Khi diễn biến thị trường bất lợi người Việt luôn sẵn sàng điểu chỉnh hợp đồng và mong đợi một động thái tương tự từ phía đối tác. Người Việt muốn và đặt trọng tâm vào việc hiểu nhau một cách âm thầm tế nhị. Người Mỹ thì khác, họ cho rằng nếu bạn không nói ra thì biết đường nào mà chiều. Vì thế trong các cuộc đàm phán cũng như trong cuộc sống hàng ngày người Việt thường hay có thái độ nhẫn nhịn còn người Âu Mỹ vô tâm hơn. Trong công việc thái độ cạnh tranh của người Mỹ biểu hiện rất rõ. Họ thích giải quyết công việc theo kiểu “cưa đứt đục suốt”, không ỡm ờ như dân Á Đông. Người Việt thường coi trọng quan hệ và tận dụng tình nghĩa, người phương Tây ưa sòng phẳng. Doanh nhân Âu Mỹ rất dị ứng với “não trạng ưa chạy chọt” khi đầu tư làm ăn ở Việt Nam.

Nhiều doanh nhân Việt Nam quan niệm rằng có “luật pháp quốc tế”. Người Mỹ cho rằng luật pháp Mỹ là quốc tế.Người Mỹ chỉ kinh doanh ở những nơi mà luật pháp Mỹ được công nhận khi có tranh chấp. Người Âu lại cho rằng nếu như có “luật pháp quốc tế” thì luật pháp của Châu Âu mới là mẫu mực. Trong vụ kiện cá basa bán phá giá vào Mỹ, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã thuê công ty luật White&Case của Mỹ để hầu kiện. Bước đầu, tuy vụ kiện bị bộ thương mại Mỹ (DOC) xử không công bằng và áp đặt mức thuế chống bán phá giá bất hợp lý cho phía Việt Nam, nhưng qua đó cho thấy doanh nhân Việt Nam rất nhanh nhạy trên thị trường.

Dấu vết mẫu quyền từ thời Hai Bà Trưng đến nay vẫn còn lưu lại ở cộng đồng người Việt. Người Việt nằm trong số ít ỏi các sắc dân thế giới mà phụ nữ khi lấy chồng không đổi họ. Đây không phải là đặc trưng Châu Á. Người Việt hiện đại gọi nhau bằng tên. Kể cả Thủ tướng, Bộ trưởng cũng gọi theo tên không gọi theo họ. Trong khi đó người Âu làm việc gọi nhau bằng họ. Không cẩn thận nhiều khi người Việt không phân biệt được, nhất là trong tiếng anh, họ hay tên đền là name cả. Cho nên tuy biết rằng mới quen nhau nên gọi tên theo họ, trong gia tộc thân quen mới gọi nhau bằng tên, những rất dễ lẫn. Người Việt trình tự họ trước tên sau. Người Âu thì ngược lại tên trước họ sau. Việc lẫn họ với tên tạo ra một sự khó chịu hoặc ngỡ ngàng không đáng có. Đối với người Âu, phải thêm MR.,MS., hoặc chức danh, học vị Dr., học hàm Prof. … khi gọi nhau bằng họ.

Đã thành ngạn ngữ trong cộng đồng người Âu sống ở Việt Nam. Nếu nghe nói là “có” tức là “có thể”, và “có thể” tức là không. Còn nếu nói không thì đó không còn là người Việt nữa.

Trong cuộc gặp này 14-8-2003 giữa doanh nghiệp và các nhà ngoại giao, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Văn Bàng nhận xét: “ Doanh nghiệp chúng ta phản hồi rất yếu. Do cách làm ăn của mình chưa thật nhiệt tình bài bản. Đáng lý, dù không làm được cũng phải trả lời rõ ràng, đằng này ta vẫn quen theo kiểu thấy chẳng có lợi gì thì thôi luôn”. Cũng tại cuộc họp này, Đại sứ Vũ Dũng nhấn mạnh: “Tôi cũng xin lưu ý các doanh nghiệp là làm ăn với nước ngoài phải rất nghiêm túc, phải lên kế hoạch. Các chương trình làm việc của quý vị tại Nhật Bản nên thông tin trước cho chúng tôi ít nhất là hai tháng, còn tốt nhất là 3-6 tháng. Người Nhật Bản vốn rất kỹ tính.”

Luật chơi phương Tây đơn giản. Luật chơi người Việt luôn uyển chuyển tùy tình thế. Phương Tây tư duy logic là chính. Tư duy người Việt tùy thuộc vào sự phát triển của tình hình. Phương Tây có sự thật cố định thì phương Đông lại không có. Tất cả phụ thuộc vào bối cảnh chung của từng thời điểm.

10.GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Giáo dục là nghệ thuật làm cho con người trở nên có đạo đức

F.Hegel

Xã hội ngày một văn minh, tiến bộ, cho nên bể học ngày càng rộng, mẹ cha gia đình đã không còn cáng đáng nổi chức năng dạy dỗ con trẻ nên phải nhờ đến học đường. Trong trường học trẻ được dạy dỗ nên người. Đây cũng là nơi rèn đúc hiền tài cho đất nước, nuôi dưỡng nguyên khí cho quốc gia.

Theo GS. Phan Đình Diệu: “Để tạo vốn con người cho kinh tế tri thức, trước hết cần phải có một nền giáo dục tiên tiến và lành mạnh với mục tiêu vì mọi người, cho mọi người. Tiếp đó là phát triển một xã hội học tập, cung cấp các hình thức học tập đa dạng cho mọi nhu cầu học tập trong xã hội. Trong tình hình giáo dục như hiện nay, việc đầu tư suy nghĩ để hoạch định một chiến lược phát triển giáo dục không thể tách rời việc tìm kiếm các giải pháp đột phá nhằm khắc phục những yếu kém hiện tạ, dọn đường cho những chiến lược tương lai. Hiện tại, nền giáo dục của nước ta chỉ phục vụ kiến thức là chính, dẫn đến tình trạng học để thi, học vì bằng cấp, nạn bằng giả, học vị rởm. Bước vào nền kinh tế tri thức chúng ta cần một nền giáo dục tương ứng là đào tạo ra những con người có những phẩm chất cần có: vốn tri thức, lòng ham hiểu biết và sáng tạo, có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng xã hội, với đất nước.

Nền giáo dục đáp ứng những yêu cầu đó chắc chắn sẽ khác với nền giáo dục đơn điệu hiện nay. Chúng ta cần có cuộc cách mạng toàn diện: thay đổi từ mục tiêu, phương pháp, nội dung đến cách đánh giá để có một nền giáo dục hướng đến người học. phát huy năng lực đặc thù của mỗi cá nhân, tránh cào bằng, tránh rập khuôn, khuyến khích sự suy nghĩ độc lập và sáng tạo. Muốn vậy, chương trình không thể đóng khung như hiện nay, mà phải có phần tự chọn, phần học theo năng khiếu, có phần kiến thức bắt buộc phải biết và phần nên biế, không chỉ chú ý trang bị kiến thức khoa học, còn phải trang bị cho người học kiến thức xã hội, văn hóa, thẩm mỹ… Trong nền giáo dục đó, mỗi cá nhân sẽ tự vươn lên bằng chính năng lực của mình, thi cử, bằng cấp, học vị không còn ý nghĩa quyết định đối với việc tuyển chọn, sắp xếp vị trí trong xã hội”.

Giữa giáo dục và đào tạo có sự khác biệt. Đào tạo chủ yếu là để tăng cường kiến thức, tăng cường trí lực. Giáo dục và đào tạo là song hành nhưng không phải là một. Giáo dục có mục tiêu bồi dưỡng tâm tính để tăng cường tâm lực. Giáo dục dựa vào các tiên đề, dạy các quy tắc hành xử giữa con người với con người dựa trên các chuẩn mực, các quan niệm được công nhận của xã hội, mà đã là tiên đề thì không cần và cũng không thể chứng minh. Giáo dục dạy cách xử lý các tình huống mẫu bằng các giải pháp mặc định trong quan hệ xã hội. Người xưa dùng ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín để dạy hậu nhân.

Đào tạo thì khác, đào tạo chủ yếu đặt nặng việc nâng cao năng lực xử lý các mối quan hệ của con người với giới tự nhiên để chinh phục tự nhiên. Đào tạo dạy cách tư duy logic để phân biệt đúng sai, cho nên đào tạo dựa cơ bản trên việc coi trọng tính tồn tại khách quan của các quy luật.

Sau một quá trình đào tạo, học viên đỗ đạt sẽ nhận được bằng cấp. Người có bằng cấp cao thường là người có văn hóa nhưng bằng cấp vẫn chưa phải là thước đo văn hóa. Bằng cấp là thước đo kiến thức, và chính xác hơn, bằng cấp là thước đo học vấn. Ở đây lại cần phân biệt cho rõ: có học vấn chưa chắc đã là có kiến thức và có kiến thức chưa chắc đã là có tri thức.

Không dễ như đào tạo, dựa trên việc truyền đạt kiến thức là chính, giáo dục nhằm giúp cho học sinh trở thành người tốt nhờ phân biệt được việc tốt việc xấu, vì vậy trên căn bản, cái khó nhất đối với giáo dục là phải làm gương từ những việc nhỏ đến những việc lớn. Những tấm gương đầu tiên là gia đình, sau đó là nhà trường và sau nữa là xã hội.

Vì các lẽ đó Oscar Wilder nhận định: “Giáo dục là điều đáng kính trọng, nhưng thỉnh thoảng cũng nên nhớ rằng không có cái xứng đáng được hiểu biết mà có thể dạy dỗ được”. Và một trong những cái rất xứng đáng được hiểu biết nhưng ít được chú ý giữ gìn đúng mức đó là lòng tự trọng. Người có đủ lòng tự trọng thì mới biết giữ chính danh. Văn Giáo cho rằng: Phong cách, uy tín của thầy cô được học sinh khắc ghi qua những sinh hoạt tưởng chừng rất bình dị: tổ chức học thêm, cung cách chấm điểm, giao lưu với học sinh mỗi ngày…

Trong nhiều trường hợp, một hành động gương mẫu của lãnh đạo có tác động mạnh đến người dân, nhất là giới trẻ, hơn gấp nhiều lần những lời kêu gọi suông. Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã sử dụng xe đạp, còn thủ tướng Anh Tony Blair đã đi bộ để làm gương cho chiến dịch bảo vệ môi trường và giảm tắc nghẽn giao thông. Thủ tướng Lý Quang Diệu lúc còn tại chức đã lên truyền hình tuyên bố bỏ thuốc lá mặc dù lúc đó một ngày ông hút không dưới 20 điếu. Thường thì cái hay khó dạy,thói hư dễ học. Trong một xã hội kỷ cương khi mà người tốt được tôn vinh, được ưu đãi và thành đạt thì tác dụng của nó còn hơn cả trăm bài giảng, hơn cả ngàn cuốn sách.

Các hình tượng văn học, nghệ thuật là một kiểu làm gương đặc biệt. Thơ ca, truyện tranh, tiểu thuyết và đặc biệt là điện ảnh đóng một vai trò không thể thay thế trong giáo dục hiện đại. Nhiều khi các ngôi sao điện ảnh tác động đến thế hệ trẻ hơn cả chục lần so với trường học. Nhất là trong tình hình chưa phổ cập được giáo dục phổ thông như hiện nay. Đối với thế hệ trẻ, một bộ phim dã sử vừa sinh động vừa dễ nhớ hơn cả chục lần so với công sức phải bỏ ra để đọc một cuốn chính sử dày cộm.

Trong lịch sử phát triển của mình, Châu Á rất chú trọng bồi dưỡng tâm lực. Nhờ tâm lực mà yếu có thể thắng mạnh, ít có thể địch nhiều. Tuy nhiên điều đáng lo lắng hiện nay là nhà trường đang tự biến thành môi trường đào tạo thi nhiều hơn là giáo dục. Và hiện tại giáo dục vẫn đang làm chức năng đào tạo là chính, đó là cung cấp kiến thức cho học sinh.

Có thể đào tạo và tự đào tạo suốt đời, nhưng cây non mới dễ uốn, giáo dục nhân cách, dạy đạo làm người phải bắt đầu từ trẻ nhỏ, từ học sinh mẫu giáo, phổ thông.

A.Steer, nguyên giám đốc Ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam, nhận định: “Có 3 điều nhà trường Việt Nam nên bổ sung ngay vào bậc trung học. Đó là dạy cách giải quyết vấn đề, cách làm việc tập thể và cách giao tiếp hiệu quả”. Đó là tuyên bố của ông Steer trước khi kết thúc nhiệm kỳ tại Việt Nam. Những điều ông nói thuộc về kỹ năng xã hội. Đã là kỹ năng thì không chỉ có kiến thức mà phải qua rèn luyện. Có kỹ năng là biết cách làm.

Giải quyết vấn đề (problem solving) là kỹ năng quan trọng trong sáng tạo luận: Sáng tạo là công cụ tư duy. Sáng tạo là kỹ năng số một của tương lai trong nền kinh tế dựa trên tri thức. Khi mà không một hình mẫu nào của quá khứ có thể được áp dụng rập khuôn. Mỗi người trong quá trình làm việc khi được giao nhiệm vụ phải biết cách giải quyết vấn đề một cách chủ động sáng tạo. Giải quyết vấn đề là kỹ năng quan trọng hiện được giảng day ở bậc đại học. Xu hướng của giáo dục hiện đại là chuyển nó càng sớm càng tốt sang cho giáo dục phổ thông. Sao cho mọi người lao động đều làm việc một cách sáng tạo cho dù là đang ở vị trí nào.

Làm việc tập thể (team work) xem ra là kỹ năng ít được lưu ý nhất của người Việt. Không hiểu sao khi làm bất cứ cái gì chung, dường như chúng ta đều có cảm giác sợ hoặc ngại. Quan niệm “riêng rẻ khỏe ăn” vẫn còn ăn sâu trong đầu mỗi người và đây không biết có phải là tàn dư của “tâm lý tiểu nông” hay không ? Trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về “phát triển nguồn nhân lực” , các chuyên gia Liên Hiệp Quốc có nhận xét rằng người Việt rất thông minh và cần cù nhưng thiếu tinh thần và kỹ năng hợp tác.

Tinh thần và kỹ năng hợp tác không phải hô hào mà có. Nhật Bản và nhiều nước công nghiệp đã giáo dục công dân của họ từ tuổi mẫu giáo. Các doanh nghiệp Nhật tuyển dụng nhân viên không chỉ qua phỏng vấn cá nhân mà còn qua cách giải quyết tình huống trong nhóm nhỏ. Từ những năm 1940, người Mỹ đã phát động phong trào học về tâm lý nhóm nhỏ hay động học nhóm. Điều đáng nói là những môn học hiện đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Học viên không chỉ nghe lý thuyết rồi trả bài mà thực sự tham gia vào hoạt động xây dựng, điều hành và quan trọng hơn là phát hiện mình trong hoạt động nhóm.

Đánh giá một lao động lao động tương lai người ta không chỉ quan tâm đến năng lực chuyên môn mà còn quan tâm đến năng lực làm việc chung với những người khác. Cốt lõi của làm việc tập thể là phân công lao động, là biết phân công lao động và chịu sự phân công lao động.

Để có được kỹ năng giao tiếp hiệu quả cần học cách nói điều mình nghĩ theo cách sao cho mọi người nghe mình. Có vẻ như nghịch lý khi mà muốn bạn nghe mình thì mình cũng phải học cách tìm hiểu bạn. Giao tiếp trong xã hội hiện đại là tương tác. Biết cách nói thật mà không làm mất lòng. Biết nghe lời thật mà không bực mình. Học nhìn sự thật để tìm cách giải quyết vấn đề. Mục tiêu là để làm việc chung một cách hiệu quả.

11.CÂN BẰNG

11.1 Cân bằng lý lẽ với tình cảm

Lý lẽ và tình cảm dường như đối nghịch nhau nhưng cần thiết cho nhau. Tình cảm ngự trị trong gia đình, dân tộc, làng xóm, cộng đồng… trong khi đó lý lẽ là cái mà theo đó pháp luật hành xử. Cái khó là vừa hợp tình vừa hợp lý. Lý lẽ là căn bản và cũng chỉ là căn bản, bởi vì lý lẽ không bao quát hết được mọi mặt của cuộc sống. Chuyện làm việc thiện, uống nước nhớ nguồn, nhường cơm xẻ áo… là thuộc phạm trù tình cảm.

Trước hết cần phải đúng lý, nhưng không phải bao giờ nói lý cũng thắng, bởi lẽ để có thể làm ăn buôn bán chung với nhau được thì : “Một bộ cái lý không bằng một tí cái tình”.

11.2 Cân bằng tri thức và vốn

Kinh tế loài người phát triển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và đến nay tích lũy kinh tế đã đủ lớn để nói đến giai đoạn phát triển ban đầu của kinh tế tri thức.

Cái gì thiếu, cái gì hiếm thì quý. Của cải vật chất khi đã dư thừa ở mức nhất định thì kinh tế tri thức mới thực sự có tiền đề phát triển. Ở các nước OECD, có nền công nghiệp phát triển thu nhập đầu người gần 10000 USD một năm, nhu cầu về tri thức đã cao đến mức là: “Cái biết đánh chết cái có”.

Tuy nhiên, không biết cách làm ăn thì càng nhiều vốn càng lỗ nhiều. Ngược lại, kém vốn thì tri thức chỉ còn là ước mơ.

Phải có một sự cân bằng giữa tri thức và vốn. Vốn phải có tri thức mới thành sức mạnh. Tri thức phải có vốn mới biểu hiện được. “Nhiệt tình công với thiếu hiểu biết là phá hoại”.

11.3 Cân bằng vật chất và tinh thần

Là tạo vật kỳ diệu của thiên nhiên con người có những nhu cầu sống như mọi sinh vật nhưng nếu chỉ có như vậy thì chưa đủ. Trong mỗi con người luôn cháy sáng một ngọn lửa tinh thần và xuyên qua biết bao thế hệ, mà nhiệt năng của nó luôn thúc đẩy chúng ta hôm nay trở nên tốt hơn, làm cho con người chúng ta vượt trên muôn loài.

Không chỉ tinh thần, vật chất là cần thiết để nuôi dưỡng tinh thần và thinh thần bảo đảm trở lại vật chất. Vật chất là gốc, tinh thần là ngọn. Thiếu gốc thì không bền vững, thiếu ngọn thì không vươn cao.

Người ta sống cần cả tinh thần và vật chất.

11.4 Cân bằng cuộc sống và công việc

Lúc khởi nghiệp, bạn rất có thể thích mở công ty ngay tại căn nhà của bạn. Nhưng đừng hài lòng quá lâu về chuyện đó. Đến một thời điểm nhất định bạn sẽ thấy là giữa đời sống gia đình và công ty dường như không còn có một hàng rào cách biệt mà tất cà như nằm trên một sân bóng. Ba giờ sáng đang ngon giấc bạn có thể bị đánh thức để nhận một cú điện thoại từ nước ngoài gọi về. Khi điều kiện cho phép hãy chuyển ngay gia đình khỏi công ty, càng sớm càng tốt.

Phải nghỉ ngơi thư giãn một cách thích hợp. Phải tách công việc khỏi cuộc sống.
Càng là người có vị trí cao trong công việc, là thủ lĩnh, bạn càng phải biết tự bảo vệ mình trước áp lực của công việc thì đầu óc mới sáng suốt được. Phải cân bằng hợp lý giữa lao động và nghỉ ngơi.

Đơn giản nhất là nên hạn chế sử dụng và tắt điện thoại di động khi bước vào nhà, cũng như không nên mang chiếc máy tính xách tay về nhà để làm việc. Phải tìm cách thư giãn đầu óc, tránh đừng nghĩ đến công việc khi ở nhà. Cuối tuần phải nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi đúng nghĩa, tức là không tiếp xúc bất kỳ ai liên quan đến công việc. Lâu lâu có dịp nên đi chơi xa càng tốt.

Một điều nữa nên lưu ý là có thể bạn có một trí nhớ tuyệt vời thì bạn cũng đừng nên lạm dụng nó. Đầu óc là để tư duy, không dùng đầu óc để ghi nhớ quá nhiều dữ liệu thay cho sổ tay và máy tính. Không được để mình mệt mỏi, vì mệt mỏi và căng thẳng thì không thể cho ra những quyết định sáng suốt và nhanh chóng.

11.5 Cân bằng sức khỏe và trí tuệ

Đa số trong chúng ta không tìm ra giờ tập thể dục. Vấn đề là ở sự không cân đối giữa laoi động văn phòng và hoạt động thể lực. Không tìm ra được vài giờ trong một tuần hoặc nữa giờ trong một ngày là do chưa thực sự ý thức được tầm quan trọng của việc tập thể lực.

Trái tim cũng là cơ bắp, nhưng nó không thể luyện tập trực tiếp được. Trái tim chỉ có thể luyện tập qua các nhóm cơ lớn, đặc biệt là cơ chân. Luyện tập đi bộ, chạy chậm, đi xe đạp, bơi lại có tác dụng lên hệ tim mạch và trao đổi chất một cách mạnh mẽ. Ở lầu quá cao, không dùng thang máy cũng là một cách để rèn luyện trái tim và cơ bắp mỗi ngày.

Giống như cơ bắp, trí óc cũng có thể luyện tập. Học thuộc lòng vài từ mới trước khi đi ngủ là cách dỗ giấc ngủ tốt nhất. Ở bất cứ tuổi nào cũng có thể học. Học ngoại ngữ, học chữ Hán, chữ Nhật là một công cụ tốt để rèn luyện trí nhớ. Học thuộc lòng những chữ mới là phương pháp tốt để luyện tập não bộ, nhất là cho những người lớn tuổi. Kể cả những người đã đến tuổi về hưu, học tập được coi như là một sự giải trí tốt nhất trong các phương cách có thể lựa chọn. Học tập nhanh là một thứ quyền lực.

Điều độ trong sinh học và giữ gìn sức khỏe là một bảo đảm cho hoạt động đóng góp lâu dài. “Trí tuệ minh mẫn chỉ có được trong một cơ thể khỏe mạnh”.

12. NHÀN ĐÀM CHUYỆN ĐỌC SÁCH

Huỳnh Ngọc Chiến

Đọc sách, từ xa xưa vẫn được coi là một trong những thú vui tao nhã nhất trên đời. Có người đọc sách để di dưỡng tinh thần, cũng có người trồng cây cảnh để dưỡng trí, nuôi chim cá để dưỡng nhân. Có người đọc sách để trau dồi kiến thức, có người đọc sách để tìm chút thư thái bình an, có người đọc sách để tìm chốn an tâm lập mệnh, có người đọc sách để quên đi cảnh muộn phiền, có người đọc sách chỉ vì bắt buộc phải đọc, ví dụ như sinh viên trước các kỳ thi… Nói chung là có vô vàn cách đọc sách. Hoặc đọc theo cách đăm chiêu tư niệm. Hoặc đọc theo cách lai rai khoái hoạt. Hoặc đọc theo kiểu lãng mạn phiêu bồng. Thư trung hữu nữ nhan như ngọc (trong sách có cô gái xinh như ngọc). Người xưa thường dùng dẫn câu đó để khuyến khích con em đọc sách. Nhưng mục đích của việc đọc sách này là “sôi kinh nấu sử” để chuẩn bị đăng khoa. Đọc sách chỉ nhằm mục đích “trả bài” để tiến thân, hoặc để “trang sức tinh thần” không phải là nội dung sẽ bàn luận. Ở đây cũng không dám bàn đến phương pháp đọc sách, hay cách chọn sách, mà chỉ xin bàn đến niềm vui và sở đắc trong việc đọc sách, hay cách chọn sách, của những người mê thích đọc sách về một chủ đề, hay một tác giả nào đấy.

Người xưa chia làm ba loại có hiểu biết: sinh nhi tri, khốn nhi tri, học nhi tri. Có người mới sinh ra là đã có hiểu biết rồi, sinh nhi tri. Cái có hiểu biết ấy chỉ dùng cho bậc thánh nhân “vô sư tự ngộ” (không thầy vẫn hiểu biết), như Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca… Có người do lâm vào cảnh khốn cùng mà có hiểu biết, khốn nhi tri. Như Văn Vương, khi bị vua Trụ giam ở ngục Dũ Lý, đã nghiền ngẫm Kinh Dịch mà diễn lại các quẻ, để làm ra Hậu thiên bát quái của Phục Hy. Còn hầu hết chúng ta có lẽ đều do học mà biết, học nhi tri. Mà học nhi tri thì không gì bằng đọc sách. Nhiều người đã cực lực quan trọng hóa cái học chính qui bài bản của nhà trường, xem như đó là điều cơ bản của một người được coi là có học vấn. Về lĩnh vực khoa học tự nhiên thì còn có thể đồng ý ở một mức độ nhất định nào đó, song trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, thì nhận định chủ quan đó nhiều khi không chuẩn xác. Nhất là trong lĩnh vực triết học phương Đông, kiến thức kinh điển từ nhà trường nhiều khi lại là chướng ngại, ngăn cản con đường đi vào tâm đạo. Cứ thử theo gót M.Heideger nhìn lại triết học phương Tây, ta sẽ càng thấm thía thêm điều đó. Kiến thức chính qui mà nhà trường đào tạo cho chúng ta, chỉ có thể xem như là cái nền móng, để trên đó chúng ta, bằng con đường tự học xây dựng căn nhà riêng. Còn “căn nhà riêng” đó có đẹp đẽ, kiên cố và có giá trị hay không, điều đó còn tùy thuộc vào tài năng tự học và tài hoa của từng người.

Có không ít người thành đạt trong khoa học là những người tự học, hay ít ra, cũng không phải là người đã từng được đào tạo chính qui theo ngành học đó. Có vị khoa bảng nào, ông Cống ông Nghè nào viết nổi bộ “Nho giáo” như học giả Trần Trọng Kim chưa? Ở miền Nam, không ai xa lạ với Bùi Giáng, người có kiến thức khổng lồ về triết học Đông Tây, cũng chỉ nhờ đọc sách và tự học. Và có nhiều người từ lĩnh vực tự nhiên, khi nghiên cứu khoa học xã hội đã để lại những công trình đáng kính nể. Mà nào họ có được đào tạo chính qui về xã hội học đâu? Như giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Tất cả đều là kết quả của quá trình tự đọc sách và tự học. Tự học có thể bắt nguồn từ môi trường nghề nghiệp, từ môi trường sách vở, từ các bậc thiện tri thức. Mà nói đến việc tự học thì không thể không nhấn mạnh đến vấn đề đọc sách. Vì chúng là nguồn cung cấp kiến thức chủ yếu. Nhiều người lo rằng với sự phát triển công nghệ, tương lai sách điện tử sẽ thay thế sách giấy hiện nay. Những ai tin vào điều đó, là những người chưa hề hưởng được thú vui đọc sách. Đọc sách mà phải ngồi trước máy tính, theo dõi màn hình qua đĩa CD, thì đúng là một cực hình. Có ai lại quên được những giây phút nằm co ro trong chăn, giữa mùa đông lạnh buốt, để đọc sách mà mình ưa thích? Những người đọc sách chỉ vỉ đam mê quả thật rất đáng mến, do không bắt nguồn từ ý đồ cố trang bị kiến thức để “trả bài”. Bản thân việc học và đọc sách, theo đúng nghĩa, đã đem lại niềm vui rồi.

Hoàn toàn không có cuốn sách nào có thể được xem là hay hoặc dở đối với tất cả mọi người. Truyện Kiều từng bị các nhà Nho đạo mạo lên án là dâm thư. Triết gia Hy Lạp cổ đại là Héraclite đã từng đòi nọc thi hào Homère ra mà đánh đòn. Kinh Thánh cũng như kinh Phật từng nhiều phen bị phỉ báng. Đó cũng là điều rất đỗi thường tình. Chúng ta nên tránh thói quen đả kích, hay ngợi khen một tác phẩm nào đó theo dư luận, nhất là khi dư luận đó được khẳng định bởi những cây đa, cây đề trong lĩnh vực phê bình. Một tác phẩm được tất cả mọi người đều khen mà thấy dở cũng không sao. Điều đó không có nghĩa là cái đầu của ta kém thông minh hơn thiên hạ, hay tâm hồn của ta không được nhạy cảm bằng mọi người, mà điều đó chỉ có nghĩa là: tác phẩm đó không phải viết cho ta đọc! Vậy thôi. Nói theo kiểu phương Đông, có nghĩa là ta chưa có duyên với cuốn sách đó. Các thiền sư, cho dù vĩ đại, không phải lúc nào cũng có thể khai ngộ cho đệ tử của mình được nếu thấy cơ duyên chưa ứng hợp, mà đôi khi phải nhờ đến các thiền sư khác. Việc đọc sách cũng chẳng khác việc khai ngộ, phải chờ đến cơ duyên. Tôi biết có nhiều người đã từng say xưa đọc Dostoievski, Whitman, Shakespeare, Bùi Giáng, suốt ngày này tháng nọ, nhưng thử cầm đến các tác phẩm của văn hào G.Márquez lên là thấy buồn ngủ! Mặc dù đã rất cố gắng để đọc, nhưng không lần nào họ đọc nổi quá 50 trang. Đành bỏ dở. Không thể đọc được. Nhưng chắc cũng không đến nỗi vì thế mà họ thành ra: “Kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, thì thấy nói năng vô vị, mặt mày trông đáng ghét” (lời của nhà thơ Hoàng Sơn Cốc). Nếu chỉ ưa thích vài tác giả nào đó, và bị “dị ứng” với các tác giả khác, thì đó là điều vô cùng bình thường, và cần phải có. Một người mà vừa ưa thích Dosroievski, Nietzsche, lại vừa khoái Alexandre Dumas, hoặc vừa đam mê Trang Tử, lại vừa sùng bái Chu Hy, thì chắc đó chỉ là hạng người đọc sách loại “ba phải”. Hạng người đó chỉ “đọc” theo lời bình nào đó, hoặc “đọc” theo dư luận chứ không phải đọc chính tác phẩm. Đọc sách cũng như ăn uống, ta chỉ có thể hợp “gu” với một số món ăn nhất định nào đó mà thôi. Không nên có quan niệm xem món này là “sang” hơn món kia, và phải cố gắng ăn cho bằng được, để chứng tỏ mình là “dân thượng lưu”, mà vấn đề nằm ở chỗ, ta thích hợp với món ăn nào! Bộ bão cũng như bao tử, chỉ có thể tiêu hóa được những món ăn phù hợp. Đừng nên bắt con sư tử phải ăn cỏ, và buộc con voi phải ăn thịt.

Theo cách nói của người phương Đông, đọc sách theo đúng nghĩa, không chỉ có ham mê hay thông tuệ là đủ, mà còn cần phải có cơ duyên nữa. Không phải cuốn sách nào, cho dẫu là những kiệt tác giá trị, ta cũng phải cố đọc và đều có thể đọc hiểu được. Và lại càng không nên hễ nghe quảng cáo một cuốn sách nào đó là tuyệt phẩm, thì phải tìm mọi cách để đọc, chỉ nhằm mục đích khi ai hỏi thì trả lời “Đã đọc rồi!”. Lắm khi, một cuốn sách bình thường lại có thể thay đổi cả quan niệm của một con người. Và chuyển số phận của họ theo một hướng khác. Có nhiều người rất thông minh, đọc sách suốt đời nhưng vẫn cứ “mang nhiên vô sở đắc”, chỉ vì chưa ứng hợp cơ duyên. Khi tranh luận họ hay trích dẫn điều này là từ cuốn sách nọ, điều kia ở cuốn sách đó.. chính xác từng chương từng trang… Rất bài bản, rất uyên bác, rất thông thái! Nhưng dường như họ không hiểu rằng đó chỉ là kiến thức vay mượn của thiên hạ, chứ chưa “tiêu hóa” được thành kiến thức của mình. Giống như một nhân viên ngân hàng, hàng ngày có thể đếm tiền tỷ, nhưng vẫn không phải là tỷ phú, vì đó là tiền của người khác. Những người có cách đọc sách như vậy rất dễ bị “bội thực” về kiến thức. Đừng bao giờ đem kiến thức vay mượn làm vật trang sức, vì điều đó thật là phù phiếm. Mà phải biết biến kiến thức đọc từ sách vở thành cái của riêng mình, dù sâu dù nông đều tốt. Đó mới chính là mục đích của việc đọc sách.

Một cuốn sách hay thường là một cuốn sách gợi mở cho người đọc những gì họ ấp ủ trong tư niệm, mà không đủ khả năng diễn đạt thành lời. Điều kỳ hiệu của việc đọc sách là có khi người đọc lại tìm thấy trong đó những chiều sâu tư tưởng, những vấn đề mà chính tác giả cũng chưa lường tới. Đọc sách theo nghĩa chân chính, đó là quá trình đi tìm lại chính mình. Nếu tâm hồn ta chưa chuẩn bị đầy đủ, để cộng hưởng với sự gợi mở của một cuốn sách nào đó thì có đọc cũng bằng vô ích. Cuốn sách nào đáp ứng được yêu cầu đó, sẽ khai mở con đường đi vào nội tâm, hoặc phát lộ những tư tưởng mà tác giả và người đọc đều có một điểm chung để chia xẻ. Nietzsche đọc Stendhal và Dostoievski để cảm nhận được “những nỗi tình cờ hạnh phúc nhất”. Tô Đông Pha đọc Nam Hoa Kinh cứ ngỡ mình là hậu thân của Trang Tử, vì trong đó ông bắt gặp tiếng nói của chính mình. Bùi Giáng đọc Lửa Thiêng của Huy Cận, và bị “chấn động dị thường”, nên bỏ học về quê, vô núi chăn dê đọc sách. M. Heideger đọc sách Suzuki, sung sướng phát biểu “Nếu tôi hiểu được tư tưởng của Suzuki, thì đó là những gì tôi đã cố gắng trình bày trong tất cả các tác phẩm của mình”. Đó có thể chỉ là những nỗi phấn khích quá trớn kiểu excès d’enthousisame, của các tác gia lớn, khi tìm thấy ở tác phẩm của các tác gia lớn mối tương quan giữa người viết và người đọc, ở mức độ thượng thừa của “thanh khí ứng cầu”.

Một cuốn sách có thể bây giờ ta đọc không thấy hay, nhưng vài năm sau, thậm chí vài mươi năm sau, ta mới cảm thấy hết được cái thâm thúy của nó. Ngược lại, cũng có những cuốn sách mới đọc thì thấy tuyệt vời, nhưng vài năm, hoặc vài tháng sau, đọc lại đã thấy nhạt nhẽo. Một tác phẩm tồn tại được theo thời gian là những tác phẩm đề cập đến những vấn đề muôn thuở, gợi lên được những gì thâm sâu nhất trong tâm hồn con người. Và chỉ những tác giả “nhãn phù lục cực, tâm quán thiên chu” (mắt thấu sáu cõi, lòng suốt nghìn đời) mới đủ tâm lực và bút lực thực hiện điều này. Nhiều cuốn sách chỉ phản ánh hiện thực theo kiểu tả chân thô thiển, dù có nổi tiếng một giai đoạn, thì đó cũng chỉ là vấn đề thời thượng. Nếu nghệ thuật chỉ đơn thuần là mô tả hiện thực, thì ta làm sao lý giải được sự kiện nhiều tác phẩm lớn vẫn tồn tại theo thời gian, khi mà cái hiện thực mà nó mô tả đã bị vượt qua từ lâu.

Có nhiều cuốn sách quí về kinh điển Đông phương tất nhiên cần phải đọc, nhưng phải đến một tuổi nào đó, thì ta đọc mới cảm thấy thích hợp. Đến Khổng Tử mà còn bảo “Năm mươi tuổi mới nên đọc Kinh Dịch”. Điều đó có nghĩa là đến 49 tuổi, có thể ta cũng chưa nên đọc vội. Vị vạn thế sư biểu đó rất sâu sắc khi nêu lên lời cảnh báo trên vì ông ngại cái sở học chưa đủ hàm súc, kinh nghiệm và công phu hàm dưỡng chưa đủ sâu dày mà đọc Dịch thì cái sở tri đó nhiều khi bị lệch. Rõ ràng, không trừ những ngoại lệ là có những người trẻ tuổi mà đĩnh ngộ thông minh, nhu Hà Án, Vương Bật nghiên cứu kinh dịch, hay Tăng Triệu, Lưu Hiệp nghiên cứu kinh Phật… Ngày nay nhiều người trong đó có cả các bạn trẻ, phê phán hoặc ca ngợi Kinh Dịch bằng đủ thứ ngôn ngữ đại cà sa khiến người ta hơi hãi, vì các kiến văn kém cỏi của họ về dịch. Điều băn khoăn là không biết họ đã hiểu Kinh Dịch như thế nào? Liệu đó có phải là cách để hiểu Dịch một cách chính xác hay không? Đã hơn mấy ngàn năm qua, tư tưởng vẫn thường xuyên đứng trước bi kịch của hiểm họa lập ngôn. Bất cứ luận điểm triết học nào, khi được trình bày bằng ngôn ngữ, cũng đều giống như con dao hai lưỡi. Một khi đối phương cướp lấy, thì nó trở thành vũ khí nguy hiểm và gây hại trở lại cho kẻ lập ngôn. Cõi đời này đâu thiếu những kẻ sơ cơ, không đọc nổi những kháng thư thâm áo, lại lên giọng cao đạo, dựa vào tông chỉ “bất lập văn tự” của Thiền tông để bài xích việc đọc kinh sách. Đạo Chích trong Nam Hoa Kinh đã từng dùng luận điệu của Khổng Tử để đả phá Khổng Tử. Các khái niệm Nhân Nghĩa trong tay của Khổng Tử là Thiên Kiếm, nhưng khi rơi vào tay Đạo Chích thì chúng lập tức biến thành Tuyệt Đao. Đọc sách, ta cần phải tỉnh táo để nhận ra điều ấy giữa vô vàn quan điểm xô bồ công kích lẫn nhau.

Khi cầm một cuốn sách nổi tiếng trên tay, mà bạn thấy không thể đọc nổi, thì cứ tạm gác nó qua một bên, đợi thời gian phù hợp hãy đọc. Và nếu không bao giờ đọc được, thì cũng không hề gì! Đọc sách là một công việc suốt đời. Khi cơ duyên ứng hợp thì nó sẽ là phương tiện đưa ta vào một thế giới kỳ diệu, ở đó ta tìm thấy lại, hoặc khám phá ra những điều lý thú nơi chính bản thân mình, trong những mối đồng cảm, trong những phút linh cầu, mà lắm phen trong cuộc sống xô bồ che lấp mất đi. Lúc đó, ta sẽ cảm nhận sâu hơn câu nói của Mạnh Tử “Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên ( muôn vật đều ở quanh ta, quay về với mình bằng cả tấm lòng, thì còn niềm vui nào hơn) (Mạnh Tử, Tận tâm thượng)

13. NHÂN ÁI

Nhân ái là một thứ vũ khí để được lòng người. Og Mandino viết không ai có thể cản được sức mạnh của lòng nhân ái. Sự suy lý của tôi, họ có thể tính toán; lời nói của tôi, họ có thể không tin; khuôn mặt của tôi họ có thể ghét bỏ và ngay cả việc mặc cả với tôi có thể khiến họ hoài nghi nhưng với Tình yêu (lòng nhân ái), tôi sẽ làm cho trái tim họ tan đi băng giá như ánh mặt trời làm dịu ấm những ngày đông.

Ai cũng có những đức tính đáng khen ngợi mặc dù không phải bao giờ cũng thể hiện ra. Nhân ái sẽ công phá các bức tường cùa sự hoài nghi và hận thù mà con người dựng lên quanh tim mình.

Yêu quý, vị tha, tôn trọng mọi người từ tận sâu trong đáy lòng mình là cái cách tốt nhất để mọi người yêu quý mình.

14. TÔN TRỌNG LỊCH SỬ

Nhà cửa, các công trình kiến trúc, cha mẹ ông bà để lại cho bạn, nó đúng là của bạn, nhưng như thế không có nghĩa là bạn có toàn quyền đập phá sửa chữa theo ý mình. Chỉ nên duy tu, và nếu không sửa chữa cũng chẳng sao thì nên để yên. Lịch sử dòng họ, lịch sử dân tộc giống như tòa nhà nhiều tầng. Mỗi thế kỷ của quá khứ giống như một tầng. Chúng ta hiện đang ở tầng cao nhất. Dù muốn hay không chúng ta cũng chỉ có thể xây dựng sửa sang trong cái tầng thuộc thời đại của mình. Có thể làm cho chắc, cho đẹp nhưng không thể đập phá vào các tầng dưới được. Khi đập phá vào một tầng bất kỳ của quá khứ chúng ta bị tụt xuống một tầng. Đập bao nhiêu tụt bấy nhiêu.

Các thành phố được xây dựng trong hàng trăm năm, hàng ngàn năm. Khi quy hoạch phải tránh đụng chạm đến các khu trung tâm cũng như chợ cách loại. Các thành phố Châu Âu hiện đại ngày nay vẫn giữ nguyên khu phố cổ, giữ nguyên chợ cũ ở trung tâm thành phố với đúng các kiến trúc cũ ấy, không cơi nới thêm.

Tương tự, không mở rộng đường ra trong các khu phố cũ đã ổn định. Khi cần mở đường nên mở đường mới, tránh đập phá. Càng cố công mở rộng đườgn để đi vào các khu trung tâm cũ thì đường càng chật chội, giao thông càng trở nên ách tắc. Học theo cái cách mà những con ốc xây cái vỏ mà đó cũng là ngôi nhà của nó, khi cần phát triển người ta thường xây hẳn một trung tâm mới của thành phố bên cạnh trung tâm cũ với một khoảng cách không gian hợp lý sao cho tuy hai nhưng là một và tuy một mà hai. Bằng cách đó, trong suốt thời gian phát triển, thành phố mới vẫn xây, thành phố cũ vẫn luôn còn đó.

Với cái logic ấy, trong quy hoạch thành phố cần tránh đập phá. Trong những thứ cần gìn giữ có các cây đại thụ cũng như các kiến trúc cổ và dân gian đặc biệt là đền, chùa, miếu các loại. Có những thứ không thể đập đi để xây dựng mới cho đẹp được. Và có những thứ không thể phục tráng được, kể cả có khi đó là ngôi nàh của chính ông bà, cha mẹ bạn để lại.

Raxun Gamzatop khẳng định: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”.

15.BẠN

Tôi nghe câu chuyện này ở Việt Nam và người ta bảo đó là sự thật. Tôi không biết điều đó có thật hay không; nhưng tôi biết những điều kỳ lạ hơn thế đã xảy ra ở đất nước này.

Jonh Mansur

Cho dù đã cố tránh, những khối bê tông vẫn rơi xuống trại trẻ mồ côi trong một làng nhỏ. Một, hai đứa trẻ bị chết ngay lập tức. Rất nhiều em khác bị thương, trong đó có một bé gái khoảng tám tuổi.

Dân làng yêu cầu thị trấn lân cận liên lạc với lực lượng quân đội Hoa Kỳ để giúp đỡ về mặt y tế. Cuối cùng, một bác sĩ và một y tá người Mỹ mang dụng cụ đến. Họ nói rằng bé gái bị thương rất nặng, nếu không được xử lý kịp thời nó sẽ chết vì bị sốc và mất máu.

Phải truyền máu ngay. Người cho máu phải có cùng nhóm máu với bé gái. Một cuộc thử máu nhanh cho thấy không có ai trong hai người Mỹ có nhóm máu đó, nhưng phần lớn những đứa trẻ mồ côi bị thương lại có.

Người bác sĩ nói vài tiếng Việt lơ lớ, còn cô y tá thì nói ít tiếng Pháp lõm bõm. Họ kết hợp với nhau và dùng điệu bộ, cử chỉ cố giải thích cho bọn trẻ đang sợ hãi rằng nếu họ không kịp thời truyền máu cho bé gái thì chắc chắn nó sẽ chết. Vì vậy, họ hỏi có em nào tình nguyện cho máu không.

Đáp lại lời yêu cầu là sự yên lặng cùng với những đôi mắt mở to. Một vài giây trôi qua, một cánh tay chậm chạp, run rẩy giơ lên, hạ xuống, rồi lại giơ lên.

“Ồ, cảm ơn. Cháu tên gì?” – cô y tá nói bằng tiếng Pháp.

“Hân ạ” – cậu bé trả lời.

Họ nhanh chóng đặt Hân lên cáng, xoa cồn lên cánh tay và cho kim vào tĩnh mạch. Hân nằm im không nói lời nào.

Một lát sau, cậu bé nấc lên, song nó nhanh chóng lấy cánh tay còn lại để che mặt.

Người bác sĩ hỏi: “Có đau không Hân?”. Hân lắc đầu nhưng chỉ vài giây sau lại có tiếng nấc khác. Một lần nữa, cậu bé cố chứng tỏ là mình không khóc. Bác sĩ hỏi kim có làm nó đau không, nhưng cậu bé lại lắc đầu.

Bây giờ thì tiếng nấc cách quãng nhường chỗ cho tiếng khóc thầm, đều đều. Mắt nhắm nghiền lại, cậu bé đặt nguyên cả nắm tay vào miệng để ngăn không cho những tiếng nấc thoát ra.

Các nhân viên y tế trở nên lo lắng. Rõ ràng là có điều gì không ổn rồi. Vừa lúc đó, một nữ y tá người Việt đến. Thấy rõ vẻ căng thẳng trên mặt cậu bé, chị nhanh chóng nói chuyện vớI nó, nghe nó hỏi và trả lời bằng một giọng hết sức nhẹ nhàng.

Sau một lúc, cậu bé ngừng khóc và nhìn chị y tá bằng ánh mắt tỏ vẻ hoài nghi. Chị y tá gật đầu. Vẻ mặt cậu ta nhanh chóng trở nên nhẹ nhõm.

Chị y tá khẽ giải thích với những người Mỹ: “Cậu bé cứ nghĩ là mình sắp chết. Nó hiểu nhầm. Nó nghĩ các vị muốn nó cho hết máu để cứu sống bé gái kia.”

“Vậy tại sao nó lại tự nguyện cho máu?” – người y tá lục quân hỏi.

Chị y tá người Việt phiên dịch câu hỏi lại cho cậu bé và nhận được câu trả lời rất đơn giản: “Vì nó là bạn cháu”.

16.GIAO TIẾP

“Dao luôn liếc dao sắc,

Người luôn chào nên quen,

Áo luôn may áo mới,

Người luôn tới người thân.”

16.1 Quan hệ với địa phương

Trong khi gánh vác trách nhiệm xã hội, Matsushita lưu ý, công ty cần có quan hệ tốt, hài hòa với chính quyền trung ương cũng như công đồng địa phương, nơi nó đang hoạt động. Công ty còn phải tính đến các điều kiện của các quốc gia nơi nó đang bán sản phẩm hoặc đang mua nguyên liệu thô. Dù chất lượng sản phẩm tuyệt vời đến đâu, dù kinh doanh sinh lợi cao đến mấy, nhưng nếu các mối quan hệ đó gián đoạn thì công ty không còn thực sự hiểu được trách nhiệm của mình nữa.

Quy tắc: “Nhập gia tùy tục” vẫn đúng khi khái quát hóa nó trong các điều kiện của thời đại toàn cầu hóa. Dù được nhà nước lớn ủng hộ, khi đầu tư vào một địa phương nhất định cũng nên xem xét đặc trưng khu vực và nên dùng nhiều người địa phương trong các chức vụ điều hành khác nhau. Địa phương hóa là đặc thù của các công ty đa quốc gia thành đạt ngày nay.

Người Trung Quốc có mặt khắp nơi trên thế giới và ở đâu họ cũng có một cách ứng xử mẫu mực đó là sự nhường nhịn. Ở Việt Nam, thương nhân người Hoa giàu có hơn người Việt nhưng nhà cửa họ thường không khoa trương. Người Hoa biết cách nói năng khiêm tốn. Đặc biệt người Hoa không những rất coi trọng mà còn biết cách xây dựng chữ tín và họ biết đùm bọc lẫn nhau trên thương trường.

Thương nhân Việt trong thế giới toàn cầu hóa dù đi đâu về đâu trên khắp thế giới muốn thành đạt cũng nên theo gương thương nhân Hoa kiều. Họ có những đức tính quý báu mà một ngày gần đây khi Trung Quốc trở thành siêu cường kinh tế, toàn thế giới phải học cách làm ăn buôn bán của người Hoa và coi đó như là một mẫu mực kinh điển.

16.2 Hòa nhã lịch sự, vui vẻ tươi cười

Đây là phong cách không thể thiếu được cho mỗi người dù ở cương vị nào và hoạt động trong lĩnh vực nào. Theo Ciréron, gương mặt là hình ảnh của tâm hồn. Nét văn hóa ấy là của chung nhân loại. Dân tộc nào cũng có bất kể ở trình độ văn minh nào. Người có văn hóa không hẳn cứ phải là người có học thức cao.

Ở một nghĩa nào đó, phụ nữ là những doanh nhân bẩm sinh. Vào những năm 1970 nhà nghiên cứu Đức Eibl Eisenfedt đã quay hàng ngàn thước phim về hành vi con người ở khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trên trái đất. Kết quả thật bất ngờ: Các thiếu nữ dù thuộc sắc tộc quốc tịch hay sứ sở nào đi nữa cũng đều có những cử chỉ quyến rũ như nhau. Và những ngôn ngữ không lời ấy đều diễn ra chớp nhoáng, chỉ trong nháy mắt. Đầu tiên, họ mỉm cười với ai họ cảm thấy thích. Tiếp đến, họ nhướng mày lên rồi khẽ quay đầu và cụp mắt nhìn xuống đất. Cuối cùng, họ lấy tay che mặt, mỉm cười một lần nữa và liếc nhìn “người ta”…

Không phải ai cũng ưa hài hước, và tính hài hước không phải có sẵn trong nhiều người. Những người dễ cười cũng như dễ khóc thường là tốt bụng. Những người hài hước thường giàu lòng vị tha. Những người biết hài hước thường là có văn hóa cao. Nụ cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng làm người ta nhớ suốt.

Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Không biết mỉm cười đừng nên mở tiệm”.

16.3 Nhường lời

“Khẩu khai thần khí tán”. Nghe là được, nói là mất. Nhường lời là để nghe và biết cách nghe, dù rằng công việc bạn đang làm là tiếp thị, là thuyết phục người mua.

Có thể là vì: “Người ta sinh ra với hai tai, hai mắt và chỉ một miệng, cho nên phải nghe hai, thấy hai nhưng chỉ nói một mà thôi”.

16.4 Là người bình thường

Người ở cương vị càng cao mà biết tự coi mình là người bình thường thì càng được kính trọng, càng gần gũi mọi người càng được quý mến. Khi đã thực sự có một cái gì đó hơn người thì không cần chứng tỏ nữa.

Trong một chuyến đi thăm Ba Lan cổ vũ cho WTO nguyên Thổng thống Mỹ Bill Clinton bị một thanh niên quá khích ném trứng vào người. Ông bình tĩnh cuốn áo ngoài lại và tiếp tục ký tặng những người hâm mộ. Khi được hỏi, ông trả lời: “Phải thông cảm cho những bất bình khi ở độ tuổi của anh ta”.

16.5 Người của công chúng

Người sợ nổi tiếng, heo sợ mập.

NGẠN NGỮ

Dù muốn hay không làm việc ở vị trí lãnh đạo tức là người của công chúng. Mọi người toàn quyền nói, nhận xét, đánh giá, đòi hỏi mà người ở cương vị bình thường sẽ không chịu những áp lực như vậy. Nếu như có một bài học cay đắng học được thì đó chính là danh tiếng và tai tiếng là hai thứ không bao giờ cách xa nhau quá.

Các ngôi sao nghệ thuật hay thể thao cũng vậy. Bỗng một ngày các sao chợt nhận ra rằng để có được vinh quang họ đã phải đánh đổi quá nhiều, bởi lẽ sự cố gắng của các sao sẽ không bao giờ đủ dưới những cặp mắt luôn thích “soi” của mọi người. Cô ca sĩ tóc vàng nổi tiếng từ tuổi đôi tám Britney Spears đã từng hát rằng: “Cô ấy thật may mắn, một nụ cười hoàn hảo, nhưng cô ấy khóc… khóc … khóc trong một trái tim cô đơn và thầm tự hỏi: nếu tôi không bỏ lỡ một điều gì trong cuộc sống thì tại sao những giọt nước mắt này lại đến trong đêm?” Ca hát, nhảy múa, ánh đèn sân khấu, hình ảnh tràn ngập trên báo đài, rạng rỡ nụ cười và đầy ắp hoa tặng. Những tưởng phía sau sân khấu mọi người sẽ dễ dàng bao dung? Đúng là không phải thế, nhiều người đã đối xử với các sao bằng một thứ mà ai cũng phải e sợ: đó là định kiến.

Theo The Straits Times, năm 2002 Forbes đã làm cho các doanh nhân Trung Quốc tức giận. Một số nhà doanh nghiệp ở Trung Quốc có tên trong danh sách những người giàu nhất của tạp chí Forbes đã tỏ thái độ không hài lòng và lo lắng điều này sẽ gây bất lợi cho họ trong công việc kinh doanh. Những doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Đông nói rằng họ không muốn công chúng biết đến tên tuổi của mình. “Tôi không hiểu ai đứng sau vụ xếp hạng này” một doanh nhân trong ngành du lịch nói với tờ Yangcheng Evening News. Người này cho biết mình không hề cung cấp bất kỳ thông tin nào hoặc tham gia vào cuộc bầu chọn của Forbes. Một doanh nhân khác còn chỉ trích tạp chí này đã phóng đại tài sản của ông ít nhất tám lần khi phán ông có khoảng 87 triệu USD.

Điều này có vẻ trái ngược với những nhà kinh doanh Âu Mỹ luôn thích khoa trương. Trong báo cáo của mình, Forbes cũng cho biết nhiều doanh nhân hàng đầu Trung Quốc muốn giữ kín tình hình kinh doanh và tài sản của mình hơn.

16.6 Dành thời gian

Khi nhận lời làm một việc phải có quỹ thời gian cho nó. Đây là thời gian thật sự được sử dụng, không phải thời gian danh định. Thời gian cần thiết là tùy thuộc vào tầm quan trọng, sự nhờ cậy và nhu cầu của đối tác. Thà không nhân chứ không được phép nhận và quên.

Chất lượng công việc thực hiện là sự đóng góp và là thước đo tình cảm của mối quan hệ.

17.HỌC NGHE

Có bốn mức độ nghe: nghe lỗ tai này ra lỗ tai kia, nghe một cách có chọn lọc, nghe chăm chú, nghe thấu hiểu.

Thấu hiểu không có nghĩa là thông cảm. Theo Covey, thông cảm là một hình thức của thỏa thuận, một hình thức của phê phán. Bản chất của nghe thấu hiểu không phải là thông cảm cho ai đó. Nghe thấu hiểu là nghe ở mức nhận thức được vấn đề mà người nói muốn diễn đạt. Nó là sự hiểu đầy đủ và sâu sắc về một người cả về mặt tình cảm cũng như lý trí. Nghe thấu hiểu cao hơn cả ghi nhớ, phản chiếu và cao hơn cà hiểu từng lời người ta nói.

Trên thực tế, các chuyên gia về giao tiếp đánh giá rằng những gì chúng ta lĩnh hội được trong giao tiếp 55% là ngôn ngữ của điệu bộ, do vẻ mặt và giọng nói mang lại, chỉ 7% thông tin được thể hiện qua từ ngữ.

Nghe thấu hiểu không chỉ nghe bằng tai, quan trọng hơn là còn phải biết nghe bằng mắt, nghe bằng con tim. Nghe, thấy và đồng thời cảm nhận được.

18. CÔNG NHẬN

Gần chùa gọi bụt bằng anh

Ngạn ngữ Việt

“Ba phần tư người bạn gặp đều thèm muốn tình cảm, khao khát được thiên hạ hiểu mình. Bạn làm cho họ vừa lòng thì họ sẽ sùng bái bạn”. Theo Carnegie: Đó là một trong những điều tâm đắc lớn nhất trong lĩnh vực động cơ của con người. Chỉ có những nhu cầu không được thỏa mãn mới thúc đẩy con người tranh đấu. Tiếp theo sự tồn tại về vật chất, nhu cầu lớn nhất của con người là sự tồn tại về tâm lý được hiểu, được khẳng định, được là người hữu ích và được đánh giá cao một cách đúng đắn.

Dở nhất là nghĩ xấu về người khác. Khi nghĩ xấu về người khác, có thể là bạn cố gắng không biểu hiện thái độ khinh miệt hay chê bai, ngôn từ dù sao cũng sẽ phản ánh một sắc độ nhất định tư duy của bạn, không dấu được. Điều này đặc biệt quan trọng đối với lãnh đạo. Cái nào cũng có cái giá trị của nó. “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Lãnh đạo không biết công nhận đóng góp của thuộc cấp cho đúng thì sớm hay muộn mọi người sẽ bỏ đi hết.

Khen ngợi là biểu hiện cao nhất của công nhận. Khen ngợi chỉ có giá trị động viên khi khen thực lòng. Cấp trên không biết khen làm mất đi lòng nhiệt tình của cấp dưới. Không biết cách đánh giá giá trị đóng góp của đối tác thì hợp tác không bền vững. Khi cùng ngang cấp mà khen, bạn đã tự nâng mình lên một bậc. Khi cùng chia sẽ khó khăn với cấp trên, bạn đã tự nâng mình lên với tầm cỡ cấp trên của bạn.

Thứ trưởng Bộ ngoại giao Lê Văn Bàng trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ như sau: “Tôi còn nhớ năm 1999, một doanh nghiệp nhà nước xuất nhập khẩu thuốc muốn tổ chức một hội thảo ở Mỹ để đặt nền tảng nhập khẩu thuốc từ Mỹ sang Việt Nam và ngược lại. Doanh nghiệp này đề nghị Sứ quan Việt Nam tại Mỹ giúp đỡ. Chúng tôi đã mất đúng một năm để gửi thư, đi vận động các công ty Mỹ, Bộ Thương mại Mỹ, Bộ Ngoại giao Mỹ tham gia, xin visa cho đoàn doanh nghiệp sang, sau đó dùng cả văn phòng sứ quán để tổ chức hội thảo. Gần 30 đại biểu chuyên ngành về thuốc của Mỹ đã tới dự và sau đó DNVN đã tạo dựng được quan hệ với phía Mỹ. Chúng tôi chỉ nhận được từ doanh nghiệp đúng một lời cảm ơn miệng, chứ không hề nhận được một bức thư động viên tinh thần nào”.

Biết công nhận đối tác là biểu hiện của thái độ khiêm tốn và kính trọng của bản thân ta với đối tác – tức là đã thỏa mãn nhu cầu được hiểu của đối tác và bằng cách chia sẻ như vậy đã truyền đến cho đối tác một không khí tâm lý, thổi một động lực vào công việc. Vui thì vui hơn, buồn thì bớt buồn.

Chỉ sau khi đã đáp ứng được nhu cầu chủ yếu đó, bạn mời có thể tập trung phát huy ảnh hưởng và giải quyết vấn đề.

19. THÀNH KHẨN

Một cam kết dù chưa có cơ chế đi kèm để đảm bảo cho sự thực hiện vẫn là một động lực phát triển..

Khi mắc sai lầm việc đầu tiên là phải phán đoán mức độ sai lầm. Bởi vì người ta ít khi có được sự bình tĩnh trước những hư hỏng do mình gây ra. Theo Covey, khi lỡ phạm một sai lầm ngớ ngẩn, cách hay nhất là biết cách nhận cái lỗi về mình và khoanh nó lại cáng sớm càng tốt. Giải quyết sai lầm đúng đắn không những giúp thoát hiểm mà còn có thể được đánh giá cao. Vì thế, phán đoán cho đúng mức độ sai lầm không phải lúc nào cũng dễ dàng. Theo Xuân Tiến, đối với người bi quan khuyết điểm nhỏ luôn được phóng đại lên thành khuyết điểm lớn, còn người chủ quan chuyện lớn cũng thành chuyện nhỏ. Nhưng cả phóng đại và thu nhỏ đều không tốt. Vấn đề là phải có cách đánh giá đúng để có cách xử lý. Như vậy phải biết cách để từng tự lừa dối mình. Mắc một sai lầm thậm chí là sai lầm nghiêm trọng nhưng lại tự an ủi mình hoặc cố tình che giấu sai lầm dẫn đến hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn.

Bước tiếp theo là tìm biện pháp giảm sai lầm hoặc giảm hậu quả sai lầm nếu có thể. Không phải là chuyện có lỗi hay không có lỗi. Vấn đề là nhìn nhận lỗi đó như thế nào. Nhận lỗi có ba bước. Một là, trong thâm tâm tự nhận thấy có lỗi. Hai là, nói ra miệng sự nhận lỗi và lên kế hoạch khắc phục hậu quả. Ba là, thực hiện việc khắc phục hậu quả. Cho nên, việc đầu tiên cần làm ngay là nên hỏi: “Cứu vớt được gì không?”. Có đến 80% các trường hợp lỡ lầm đều có thể cứu chữa bằng một cách nào đó. Như vậy, nếu chỉ cứu chữa được một phần nào còn hơn là thấy sai lầm mà tiếp tục để tổn thất.

Cần xác định trách nhiệm rõ ràng. Nhiều lỗi lầm không chỉ là trách nhiệm của một người nhưng thói thường người trong cuộc ít khi thấy hoặc thấy nhưng đánh giá thấp trách nhiệm của mình. Tệ hại hơn nữa là đổ lỗi cho người khác. Tuy nhiên, vì tự ái mà ôm hết trách nhiệm về mình thì cũng không đúng. Xác định cho đúng trách nhiệm của từng người thì bài học kinh nghiệm mới thực sự có giá trị.

Cho nên nếu đạ gọi là thành khẩn tức là bên cạnh việc tự nhận thấy khuyết điểm còn phải nói được ra miệng sự nhận lỗi. Không nên báo cáo một cách mông lung, dài dòng né tránh sự thật. Trường hợp phải làm bản tường trình thì nên viết ngắn gọn, đúng vào trọng tâm. Bản tường trình phải nêu rõ nguyên do, trách nhiệm thuộc về ai hoặc về những ai. Không quên lời hứa và biện pháp khắc phục, sữa chữa khuyết điểm. Ngôn từ sử dụng sẽ tự biểu lộ trình độ, ý thức của bản thân về sai lầm và mức độ thành khẩn.

Bao giờ cũng có nhiều người bạn tốt quanh bạn. Trong bất cứ tình huống nào, khi cùng đi với bạn bè thì con đường phía trước cũng bớt đi chông gai gian khó. Thành quả thu được sẽ được nâng lên, sai lầm được chia ra và nhẹ hơn nhiều lắm.

20.TRÁNH ĐỔ THỪA

Dễ nhất là đổ thừa cho cái yếu kém mà chúng ta ai cũng biết. Người giỏi đưa ra giải pháp. Kẻ yếu tìm lối đổ thừa. Khi thiếu vốn thì đổ thừa mọi chuyện yếu kém do thiếu vốn. Khi không có học thì đổ thừa mọi chuyện là do không được học hành nghiêm chỉnh… Nhưng khi đủ vốn, muốn bao nhiêu cũng có, khi được đào tạo đầy đủ và nghiêm chỉnh thì mới phát hiện không hẳn những chuyện đó là nguyên nhân gây ra hỏng việc. Đặc biệt là khi thiếu tinh thần nhiệt tình thì mọi bảo đảm vật chất và kỹ thuật cũng không thể thay thế cái yếu kém do thiếu công tâm và trách nhiệm.

Một loại đổ thừa khác nữa là đổ thừa cho cái mới cái lạ. Khi quá trình đổi mới diễn ra hàng ngày và trong các thay đổi đó cái tốt thì nhiều nhưng không phải là không có cái xấu , như vậy trong tâm lý những người kém năng động sẽ xuất hiện tâm lý đổ thừa. Khuyết dễ thấy hơn ưu. Khi đó mọi nguyên nhân gây ra cái xấu dễ bị quy cho cái mới, cái lạ. Ngày xưa, bệnh dịch xảy ra rất dễ bị đổ thừa là do dân ngụ cư mang đến. Trộm cắp cũng quy cho dân ngụ cư, tệ nạn cũng do dân ngụ cư. Ngày nay khi hỏng hóc xảy ra thì nhân tố mới, cái đang phát triển nhanh, những sáng kiến mới nhất được ứng dụng trong công ty thường được mọi người nghi vấn và đổ thừa đó là nguyên nhân gây ra hỏng hóc.

Nếu bạn đang làm một cái gì đó thật là mới, bạn nên hiểu rằng có nguy cơ bạn sẽ là nạn nhân của mọi sự hỏng hóc khác sẽ được quy cho bạn. Bạn phải hiểu cái cách hiểu của mọi người để tránh không bị đổ thừa. Không nên làm cái mà mọi người không thể hiểu nổi. Và như thế khi dự định thiết kế một loại hàng hóa mới, bạn không nên đưa ra cái quá sức mới vượt rất xa trước thời đại vì sẽ không có khách hàng ủng hộ. Như thế bạn cũng cần phải học cách hiểu thế nào là chín muồi. Giống như trái cây ăn được, nhưng phải lớn đủ cái độ của nó thì khi hái xuống mới tự chín tiếp được. Hãy giữ những quả còn xanh lại. Rồi nó cũng sẽ chín.

Một vấn đề khác, “đi qua ruộng dưa không cúi xuống buộc dây giày. Đi ngang cây mận chín không gãi đầu”. Nếu không có ý phạm tội thì phải tránh xa những cơ hội có thể phạm tội. Không nên “đi chơi đêm cùng với ma” mà chẳng để làm gì. Bởi nếu bị rơi vào tình huống “một mất mười ngờ”, bạn sẽ bị mệt mỏi một cách không cần thiết.

Nếu bạn là người giàu có hơn người thì nên hòa đồng với đại chúng. Nếu không thì chính cái giàu có của bạn sẽ được quy là nguyên nhân nghèo khó của kẻ khác. Nếu thực sự giàu có, bạn lại càng không được khoe khoang vỗ ngực xưng tên, bởi vì huênh hoang như thế làm bạn dễ bị một kẻ kém may mắn nào đó ganh ghét. Mà đã ganh ghét thì sẽ có chuyện.

21. HIỂU PHẢN BIỆN

Khi dẫn con đi mua giày đứa bé sẽ chỉ ngay một đôi mà nó thích. Là bố mẹ, bạn là người quyết định và ý kiến của bé là một dạng phản biện. Tuy nhiên kiến thức của bạn so với bé là không thể so sánh, nhưng có một điều chắc chắn, bạn sẽ chẳng bao giờ mua đôi giày để mà sau đó bé không thích xỏ chân vào.

Chuyện đôi giày cho bé đẽ thế, những chuyện lớn hơn càng cần phản biện. Do mọi vật đều được sáng tạo hai lần bắt đầu bằng sự hoàn tất trong tâm trí, phải tính cho hết mọi nhẽ sao cho trong lần sáng tạo thứ nhất mọi chuyện thật hoàn hảo thì tiếp đó trong quá trình thực thi sẽ không bị thiệt hại.

Không thể tự phản biện, bởi vì “dao sắc không gọt được chuôi”, mọi cố gắng suy nghĩ khách quan khi đó sẽ diễn ra theo cách chủ quan.

Cho nên, thầy sau khi hướng dẫn sinh viên làm luận văn phải nhờ thầy khác phản biện. Công ty, cơ quan, viện nghiên cứu… làm dự án phải nhờ công ty, cơ quan, viện nghiên cứu khác làm phản biện.

Có hai loại ý kiến phản biện:

a.Ý kiến chiến lược, b. Ý kiến “sửa dấu chấm, dấu phẩy”. Đối với ý kiến mang tính chiến lược thì nhất thiết phải sửa. Không cần sửa “chấm phẩy”, ở một mức nhất định có thể coi đó là tác phong cá nhân, và cũng không nên quá cầu toàn. Tránh tình trạng chỉ tiếp thu sửa chữa những ý kiến “chấm phẩy” còn những ý kiến chiến lược thì không thấy hoặc tránh né không thấy.

Chất lượng việc phản biện tùy thuộc vào trình độ tức là tùy thuộc vào năng lực phân loại thông tin và đồng hóa kiến thức của người có quyền quyết định. Chỉ có thể hiểu phản biện khi đó là một nhu cầu thực sự muốn nghe từ phía bên trong, khi bạn là người có quyền quyết định muốn kiểm tra tính xác đáng của những quyết định đã, đang và sẽ đưa ra. Và cách suy nghĩ biện chứng, hiểu được tính thống nhất của các mặt đối lập, việc chấp nhận và đề xuất các ý kiến phản biện khi đó sẽ dung hòa hơn.

Hiểu phản biện còn có nghĩa là tư duy theo kiểu không cả tin, biết lắng nghe “tiếng chuông thứ hai”. Nói mạnh lên một chút là không tin vào ai kể cả chính mình. Tức là, phải biết cách nghi ngời sự cả tin của chính mình.

Biết cách học từ phản biện là biết cách tốt nhất để được lòng người, đặc biệt là khi ở cương vị lãnh đạo. Không phải là cứ muốn tốt cho mọi người thì đều được mọi người ủng hộ, nhất là khi bạn không biết cách hiểu phản biện.

22.SAU ĐÓ MỚI LÀ ĐỂ HIỂU CHÍNH MÌNH

Bắt đầu bằng học nghe qua đó để biết, để hiểu và để nhận thức được tình huống của vấn đề. Các bước kế tiếp là biết nhường nhịn, biết công nhận một cách thành khẩn và biết tôn trọng dựa trên nhân ái. Nhờ hiểu được phản biện nên khi nói sẽ làm cho mọi người hiểu mình. Nói một cách hình tượng, thái độ của mọi người đối với ta giống như hình ảnh của ta trong gương. Một nụ cười thân thiện, một thái độ nghiêm túc, chân thật hay giả dối sẽ được đáp lại một cách gần đúng như thế.

Thái độ mọi người đối với ta là hình ảnh cái TÂM của chính ta qua mặt gương.

Advertisements