TRÍ TUỆ

Dĩ bất biến ứng vạn biến

63. NHÌN THẤY CÁI NGƯỜI TA KHÔNG THẤY

Dựa trên phát kiến “mọi vật đều được sáng tạo hai lần”, lần thứ nhất là sáng tạo trí tuệ và lần thứ hai là sáng tạo vật chất. Mới đầu chỉ là một tia sáng lóe lên trong tâm trí. Quan trọng là có được ý tưởng. Bạn đón lấy nó và suy nghĩ về nó mỗi ngày một chi tiết hơn. Có ý tưởng và nghĩ ra hướng giải quyết tức là đã đi được hơn nữa con đường. Bạn để tâm sáng tạo ra trước tiên là trong đầu óc càng đầy đủ trước khi làm thì trong sáng tạo lần thứ hai, sáng tạo vật chất, bạn sẽ ít phải thay đổi tốn kém và vì thế mà giảm thiểu được công sức của bạn.

Quy tắc của thợ mộc là “đo hai lần, cắt một lần”. Nếu không bị thúc ép về thời gian bạn nên suy nghĩ thật lâu trước khi quyết định. Không nên dành chỉ vài phút cho công việc nếu bạn có cả một ngày. Không nên giải quyết vấn đề của cả năm chỉ trong một lúc suy nghĩ. Càng không nên quyết định những vấn đề lớn bằng một quỹ thời gian tư duy quá ngắn. Vấn đề không phải bạn thông minh nhiều hay ít, mà quan trọng hơn là bạn đã dành bao nhiêu thời gian để thực sự suy nghĩ về nó.

Chẳng thà đi bách bộ hai giờ đồng hồ trên vỉa hè trước văn phòng của một khách hàng để suy nghĩ – Dale Carnegie khuyên bạn – còn hơn là bước sồng sộc ngay vào mà không biết rõ được mình sẽ nói gì với người ta và không đoán trước được người ta sẽ trả lời mình ra sao.

“Trước khi nói uốn lưỡi bảy lần” và không chỉ có thế, bằng cách đầu tư một quỹ thời gian tương xứng cho tư duy trước mọi hành động, bạn đã bắt đầu bằng sự hoàn tất trong tâm trí.

Trong cuộc sống cá nhân, nếu chúng ta không phát triển khả năng tự nhận thức và có trách nhiệm với sáng tạo lần thứ nhất thì chúng ta đã tạo điều kiện cho người khác chi phối chúng ta bằng những thiếu sót nằm ngoài vòng ảnh hưởng của chúng ta.

Tri thức mới là quyền lực. Và đi cùng với tiền bạc là một quyền lực to lớn đòi hỏi cần phải có kiến thức để làm cho nó sinh sôi nảy nở. Vì thế Kiyosaki & Lechter phân tích, hãy sử dụng đầu óc của mình. Cái đầu sẽ chỉ cho bạn cách làm ra tiền. Bạn sẽ thấy được những điều mà người khác không thấy.

Một khi bạn đã nhìn thấy cơ hội thì suốt đời bạn sẽ nhìn ra chúng. Cơ hội ở ngay trước mắt mọi người, nhưng hầu hết người ta không thấy được chúng vì họ đang bận bịu những công việc khác như là phải kiếm được tiền ngay hay bảo đảm không bị thất nghiệp cho nên họ chỉ thấy được những thứ đó thôi.

Với quy mô công việc càng lớn việc tính trước lại càng quan trọng. Dù rằng lý luận luôn xuất phát từ thực tiễn, nhưng trước thềm của thời đại kinh tế tri thức ngày nay, lý luận phải đi trước, rọi đường, soi sáng, tiên đoán, lý giải các vấn đề của thực tiễn. Không để các vấn đề về trình độ nhận thức cản trở sản xuất, làm giảm tài nguyên sáng tạo của cá nhân mình hay của cả tập thể bằng các định kiến lạc hậu.

Quyết định cho thi công khi không có thiết kế hoặc thiết kế tồi, không ngạc nhiên, chắc chắn công trình của bạn không vừa ý bạn. Và trong một tình huống xấu hơn, sản phẩm có thể là không vừa ý ngay cả với những người thợ đã làm ra nó. Cho nên không được tiếc tiền đầu tư cho thiết kế. Thiết kế càng chu đáo, chiếm tỷ lệ giá trị càng cao trong sản phẩm, càng chứng tỏ sản phẩm tiệm cận với nền kinh tế tri thức. Có những việc nếu không tiên liệu từ đầu thì sau đó dù không thích bạn cũng không thể dẹp đi và làm lại cho tốt hơn được.

Ở một khía cạnh nào đó thì mỗi người trong các bạn là người lãnh đạo của chính cuộc đời mình., Kim Woo Choong – người sáng lập tập đoàn Deawoo – nhận định, và không ai có thể sống thay cho bạn. Bạn chính là người lãnh đạo cuộc đời và sự nghiệp của mình.

64. TRI THỨC

Khác với đồ vật khi dùng thì hư hao đi, tri thức càng dùng càng sáng, càng được nhiều người dùng thì càng trở nên sắc bén.

Có bốn trụ cột của tri thức là : 1) Để biết. 2) Để làm. 3) Để chung sống. 4) Để tự khẳng định.

64.1 Có hiểu biết

Tri thức là có hiểu biết. Theo Ngô Quý Tùng tri thức có 6 loại hiểu biết đó là: 1) Biết cái gì. 2) Biết tại sao. 3) Làm được, biết cách làm. 4) Biết ai. 5) Biết lúc nào. 6) Biết ở đâu.

64.2 Đúng và sai

Đúng là đúng nguyên lý, sai là sai nguyên lý. Có tri thức là nắm được nguyên lý. Càng nắm vững tri thức càng ít sai. Không có đúng hay sai chung chung. Nguyên lý được biểu diễn dưới dạng định nghĩa, công thức, nguyên tắc hay thủ thuật. Chân lý là cụ thể.

“Khi chưa có compa, người ta buộc phải vẽ đường tròn bằng tay. Người ta có thể đánh giá sự khéo tay của từng tác giả và rõ ràng rằng là có sự chênh lệch về kỹ năng này ở từng người. Phan Dũng diễn giải: Sau khi có compa, sự chênh lệch về kỹ năng vẽ đường tròn biến mất vì mọi người đều vẽ tròn như nhau”.

Tuy nhiên, khi đã nắm vững nguyên lý thì khái niệm về năng lực cũng mang thêm nội dung mới đó là : Kỹ năng ứng dụng nguyên lý đó với hiệu quả cao nhất.

Phẩm chất cũng như kiểu dáng bên ngoài của một món hàng cần phải được cải tiến và thay đổi liên tục. Tuy nhiên Kim Woo Choong lưu ý rằng: Có một thứ không thay đổi đó là khoa học cơ bản. Chúng chứa những nguyên lý không hề thay đổi đối với vạn vật chung quanh chúng ta. Cũng như các môn khác, khoa học cơ bản mang tính thiết yếu đối với sự học tập và nghiên cứu. Trong đó chứa rất nhiều những thứ được coi là nền tảng để ứng dụng vào sản xuất.

Khoa học cơ bản bao gồm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Một khi được khám phá, các quy luật cơ bản của khoa học xã hội cũng mang tính vững chắc không kém các nền tảng khoa học của quy luật tự nhiên. Khoa học cơ bản xã hội trong tương lai sẽ chứng tỏ tầm quan trọng còn hơn khoa học cơ bản tự nhiên. Bởi lẽ, trong khi nhân loại đã khám phá được rất nhiều thành tựu về tự nhiên thì khoa học về chính con người ta, trước câu hỏi ta là ai, ta muốn gì … thì sự hiểu biết của chúng ta hiện nay lại là ít nhất và dường như còn chứa chất nhiều mâu thuẫn nhất.

Trong một thế giới đầy kỹ thuật cao như hiện nay, những nguyên tắc làm giàu vẫn hoàn toàn đơn giản và không cần những kỹ thuật tiên tiến hiện đại, Kiyosaki & Lechter phân tích hoặc giả bạn thích hoặc không thích địa ốc, bạn làm hoặc không làm bánh mì kẹp thịt, bạn có thể xây dựng kinh doanh xung quanh ổ bánh mì và bán lại đặc quyền thương hiệu kinh doanh. Làm giàu thật ra không khó. Làm theo người giàu cũng không khó. Một trong những nguyên nhân những người giàu có không thành công khi đi học ở trường lớp vì phần hành động trong quá trình làm giàu lại hết sức đơn giản. Bạn đâu có nhất thiết cần phải đi học mới làm giàu được. Phần hành động trong quá trình làm giàu không thể nào khó như khi học trong các trường kỹ thuật. Có rất nhiều những chuyện nội dung như thế mà một trong số đó được trích sau đây là minh họa:

Với học vấn lớp 12, Nguyễn Văn Việt lăn lộn 2 năm ở xưởng hàn tiện của thầy Tám Liễu một thợ nguội nổi tiếng ở Mộ Đức, Quãng Ngãi. Nhận thấy vùng đất nhỏ bé này không giúp được cho mình tiến lên nữa nên chàng trai 21 tuổi đã khăn gói vào TPHCM đi tìm vận hội.

Anh khởi đầu tự lập bằng nghề đạp xích lô. Với số vốn 2,5 triệu đồng do mồ hôi mà có được cộng với óc quan sát anh đã bước vào thương trường. Đầu tiên anh chỉ trải một mảnh vải nhựa ở lề đường. Tiếp tục tích lũy, khi vốn khá lên một chút, anh tìm đến các cơ sở sản xuất xin lấy hàng bỏ sỉ. Sau đó vào năm 1992, anh đã để dành được lưng vốn 50 triệu đồng để bắt đầu thực hiện ước mơ của mình.

Anh trở thành người đầu tiên ở TPHCM có ý tưởng sản xuất mặt hàng nội thất bằng nhôm cao cấp. Anh liên hệ với các chủ cửa hàng vật liệu xây dựng ở khu vực Lý Thường Kiệt để tìm mua nhôm nhập khẩu. Với kinh nghiệm người thợ, nhôm anh nhập về luôn đạt yêu cầu, vì thế sản phẩm làm ra luôn đạt chất lượng.

Sau 12 năm, chàng trai ấy đã là ông chủ cơ sở nhôm cao cấp Đức Anh. Doanh nghiệp của anh Việt có 8 cụm nhà xưởng sản xuất, mỗi cụm nhà xưởng trị giá 2- 3 tỷ đồng. Giá trị hàng hóa làm ra hàng năm gần 45 tỷ đồng, tương đương 3 triệu USD, chiếm khoảng 40% thị phần đồ nội thất bằng nhôm năm 2002.

64.3 Hộp đen

Chúng ta thường sử dụng hộp đen tức là không cần hiểu cấu trúc bên trong hộp, chỉ biết rằng cứ tác động theo một kiểu nhất định thì nhận được một kết quả tương xứng. Tự nhiên là cách phát biểu khi hộp đen phản ứng theo kiểu chúng ta không mong muốn. Ví dụ bạn đang chạy xe tự nhiên nó hỏng. Nhưng thực ra là có nguyên nhân và xe hỏng hoàn toàn không phải do tự nhiên

Đối với người sử dụng thì chiếc xe là một dạng hộp đen nhưng với nhà sản xuất thì không. Nhà sản xuất phải hiểu sản phẩm của mình và không để xảy ra những sự cố theo kiểu tự nhiên được. Mặt khác, người sử dụng càng có nhiều hiểu biết về sản phẩm thì sự cố càng ít. Bạn chính là sản phẩm quan trọng nhất của bạn. Bạn không thể coi bạn là một cái hộp đen. Vì thế, nếu bạn càng hiểu biết nhiều thứ và càng ít ứng xử theo kiểu hộp đen thì thành công của bạn trong cuộc sống càng lớn.

Mù chữ và mù số đều là những nguyên nhân gây ra những khó khăn tài chính, nếu người ta gặp khó khăn tài chính thì nghĩa là đang có một điều gì đó mà họ không hiểu được, hoặc từ ngữ hoặc con số. Người giàu phát tài được là nhờ họ biết đọc biết viết trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn những người phải vật lộn về tài chính. Vì vậy, nếu bạn muốn giàu có và giữ được của cải, bạn cần phải có hiểu biết về tài chính, cả về từ ngữ lẫn con số.

65. TÀI SẢN VÀ TIÊU SẢN

Kiyosaki & Lechter đã đưa ra khái niệm tài sản và tiêu sản với nhận định: hầu hết mọi người không nhận ra rằng trong cuộc sống vấn đề không phải là bạn kiếm được bao nhiêu tiền mà là bạn giữ được bao nhiêu tiền và làm cho nó sinh sôi nảy nở như thế nào.

Người giàu mua tài sản, người trung lưu mua những tiêu sản mà họ nghĩ là tài sản, người nghẻo chỉ có toàn chi phí.

Bạn phải biết được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản, và để được giàu có bạn phải mua tài sản. Nghe thì có vẻ đơn giản chẳng có gì đáng bàn, nhưng hầu hết chúng ta đều chưa hiểu được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản là ở đâu. Người giàu trở thành giàu vó nhờ kiếm được tài sản. Người nghèo và trung lưu chỉ thu được tiêu sản nhưng họ nghĩ rằng họ đã kiếm được tài sản.

Cũng là một cái xe, một ngôi nhà giống như mọi ngôi nhà nhưng khi thì nó là tài sản và khi thì nó là tiêu sản. Cái xe cũng vậy. Khi không còn đem lại lợi tức nữa nhà hay xe cũng chỉ là tiêu sản. Và để phân biệt được chuyện này thì những điều xác định nên một tài sản không phải là từ ngữ mà là những con số. Và nếu không biết đọc và hiểu các con số thì không thể nào xác định được một tài sản trong mớ bòng bong lộn xộn ấy.

Chúng ta thường kiếm tiền bằng kỹ năng nghề nghiệp của mình và đa số sinh viên rời trường không có một kỹ năng tài chính nào, cho nên dù có hàng triệu người có học theo đuổi nghề nghiệp của mình một cách thành công, họ vẫn dễ gặp phải những khó khăn về tài chính. Làm việc vất vả và nhiệt tình nhưng không đồng nghĩa là trở nên giàu có được. Điều thiếu sót trong vốn kiến thức mà ta học được không phải là làm thế nào để kiếm tiền, mà là sử dụng tiền như thế nào, kiếm được tiền rồi thì cần phải làm gì với chúng. Cái đó gọi là năng lực tài chính, bạn làm gì với tiền bạc sau khi đã kiếm ra chúng, làm thế nào để giữ không cho người khác chiếm lấy, bạn giữ được bao lâu, tiền bạc sẽ làm việc cho bạn như thế nào.

Khi vòng quay tiền bạc của bạn phát triển tăng lên bạn có thể mua một vài thứ đồ dùng xa xỉ. Một điều quan trọng cần nhớ là : người giàu mua những thứ xa xỉ sau cùng, trong khi người nghèo thường cố mua chúng khi mới có chút tiền dư giả đầu tiên và nhầm tưởng rằng như thế là có của. Những người có kinh nghiệm hay những người giàu thường tích lũy cột tài sản trước tiên. Sau đó họ sẽ dùng thu nhập phát sinh từ cột tài sản để mua những thứ tiêu dùng xa xỉ. Còn người nghèo và trung lưu thì ngược lại thích mua những đồ xa xỉ và ăn mất đi gia tài dành dụm cho con cái của mình.

Chính cái cách tiêu xài của bạn, là nguyên nhân gây ra cuộc vật lộn tài chính. Mọi chuyện là do không hiểu biết về tài chính và không phân biệt được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản. Người nghèo rất thường cho phép tiền bạc làm chủ mình. Mỗi buổi sáng chỉ đơn giản thức dây và đi làm mà quên không tự hỏi rằng những điều mình đang làm có ý nghĩa gì hay không. Chính cái sự không am hiểu nhiều về tiền bạc, làm cho quyền lực đáng sợ của tiền bạc điều khiển trở lại mình.

66. SÁCH VÀ KHOA HỌC

67.KỸ NĂNG

Biết chưa chắc đã hiểu, hiểu chưa chắc đã ý thức, ý thức chưa chắc đã làm được.

Tri thức bao gồm kiến thức và kỹ năng. Kiến thức có thực hành được thì mới là tri thức. Không có kỹ năng khiến thức trở thành lý thuyết suông, là mọt sách, là phi thực tế.

Tri thức = Kiến thức + Kỹ năng

Kỹ năng là biết cách làm. Sáng tạo rất cần kỹ năng. Kiến thức là của xã hội nhưng tri thức mới là của mình. Kiến thức chưa có sức mạnh chỉ khi trở thành tri thức thì mới là sức mạnh. Theo Nguyễn Khắc Viện: Chọn nghề không nên chỉ căn cứ vào sở thích hay nguyện vọng. Sợ thích, dù là tột đỉnh, cũng chưa hẳn là sở trường đích thực. Mặt khác, nếu có sở thích mà chỉ nuôi dưỡng nó bằng sự đam mê chứ không bằng sự dày công luyện tập và chí thú học hỏi thì sớm muộn gì sở thích đó cũng sẽ sớm bị giã từ.

Ông Hai Đền, ông Nghĩa những chủ doanh nghiệp gốc nông dân chế tạo được máy gặt đập liên hợp chứng tỏ họ có đầy đủ năng lực để chế tạo máy. Ông Nguyễn Đức Tâm, một nông dân, đã sáng chế ra chiếc máy cắt lúa kỳ diệu. Một người có học vấn khiêm tốn như anh Trần Văn Dũng ở Trà Vinh, bức xúc trước nhu cầu cấp thiết của bà con nông dân đã tự tạo ra chiếc xáng thổi, một chiếc máy đào đất kỳ diệu. Chuyện hàng chục sở thủy sản, trung tâm khuyến ngư với hàng chục kỹ sư cùng thiết bị hiện đại lại đến học ông Âu Văn On, một nông dân ở Tiền Giang, về bí quyết nhân giống cá chim trắng… là những minh chứng về tầm quan trọng không thể thiếu của kỹ năng tư duy thực hành trong hoạt động sáng tạo. Trong khi đó nếu xét riêng về kiến thức thì các ông này làm sao giỏi bằng các thầy ở trường hay các tiến sĩ ở viện nghiên cứu.

Tóm lại, tri thức không chỉ là cần có kiến thức mà còn cần cả Kỹ năng. Có kỹ năng là biết cách làm và làm được. Kỹ năng chỉ có được thông qua một quá trình rèn luyện.

Có 3 kỹ năng chính:

67.1 Biết cách tư duy

Kiến thức là tĩnh, tư duy là động. Tư duy không phải là kiến thức. Tư duy là kỹ năng. Đây là kỹ năng chế biến kiến thức trở thành áp dụng được cho một mục tiêu cụ thể.

Có thể là nhiều người thông minh và có kinh nghiệm thường cảm thấy bị hạ thấp khi phải chú ý tới những khái niệm quá đơn giản. Nguyên lý KISS – giữ cho đơn giản – phát biểu rằng hoạt động đặc trưng của kỹ năng tư duy là khái quát hóa. Khái quát hóa là có cách nhìn đơn giản, bao quát và hệ thống về một vấn đề phức tạp. Nhờ cách nhìn xuyên suốt và có hệ thống của kỹ năng tư duy cho nên những vấn đề vốn phức tạp được chẻ nhỏ ra, trở nên đơn giản và khả thi.

Tri thức là người lao động bằng kỹ năng tư duy.

Trí thông minh cũng là một kỹ năng, mà đã là một kỹ năng thì có thể thông qua rèn luyện mà có.

Có một khái niệm đó là trí thông minh tài chính. Trí thông minh tài chính được tạo ra nhờ 4 kỹ năng chuyên môn sau:

  1. Hiểu biết tài chính: khả năng đọc hiểu các con số.
  2. Chiến lược đầu tư: ngành khoa học tiền kiếm tiền.
  3. Thị trường: sự hiểu biết về cung và cầu.
  4. Luật pháp: sự hiểu biết về những luật lệ, quy tắc về kế toán, hiệp hội ngành nghề, chính quyền địa phương và quốc gia. Lời khuyên là bạn hãy luôn chơi cho đúng luật.

Chuyện kể rằng: “Một người vào tiệm mua kính, đeo kính rồi cầm sách đọc và cho nhận xét: chữ đọc không được. Rồi xin cho đổi kính khác. Chủ tiệm thắc mắc: Ông cầm ngược vậy sao đọc, hình như ông chưa biết chữ? Khách bảo: Chưa, chưa biết nên tôi mới phải mua kính, thế mà đọc vẫn không được”. Chuyện này không phải vậy nhưng giống như vậy khi có ai đó trang bị cho mình các thiết bị công nghệ thông tin đa phương tiện có thể là rất đắt tiền nhưng không hiểu rằng máy tính hay internet vẫn chỉ là cặp kính, không thể thay thế kỹ năng tư duy.

67.2 Biết cách diễn đạt

Đây là công việc không những của thầy giáo mà còn là của mỗi chúng ta. Dù là mình đúng cũng cần phải có cách cho người khác biết, hiểu và ủng hộ.

Diễn đạt có thể bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hình ảnh và cũng có thể là bằng các phương tiện thông tin nghe nhìn khác.

Diễn đạt càng ngắn gọn và càng mang tính chất khái quát cao thì càng khó. Mặt khác, trình bày sự việc càng chi tiết, càng chính xác càng dễ thực thi. Người có năng lực là người diễn đạt cùng một sự việc khi mà cần có thể trình bày trong một vài câu đã giúp cho người nghe hiểu ý và có thể giảng cả buổi vùng một vấn đề đó nhưng vẫn còn cái để phân tích thật sâu vào chi tiết.

Tiếp thị đòi hỏi một kỹ năng diễn đạt đặc biệt. Có hàng hóa tốt là một chuyện, biết cách sử dụng ngôn ngữ thích hợp cho tiếp thị là một chuyện khác. Trong nền kinh tế thị trường tiếp thị là một kỹ năng cơ bản. Việc trước tiên bạn nên và có thể làm là tiếp thị với xã hội chính bản thân bạn. Nhờ đó bạn sẽ có được vị trí cũng như công việc đúng với năng lực của ban5.

Những kỹ năng giao tiếp chính như viết, nói và đàm phán là những điều cốt yếu của một cuộc sống thành công. Đó là kỹ năng mà sự rèn luyện không bao giờ dư thừa bởi tính hữu ích của nó trong cuộc sống hàng ngày.

Những người có học vấn cao thường là những người biết cách diễn đạt tốt. Thầy giáo ở trường kiểm tra kiến thức thông qua khả năng diễn đạt của trò. Đó là vì ngôn ngữ biểu lộ trình độ nhận thức.

67.3 Biết cách triển khai

Biết cách triển khai là biết cách chi tiết hóa, cụ thể hóa một nguyên lý, một ý tưởng cho phù hợp với thực tế. Nói một cách chính xác, đây là quá trình sáng tạo lần thứ hai, hiện thực hóa thiết kế, ý tưởng hay nguyên lý.

Sáng tạo đòi hỏi kỹ năng tư duy nhưng sáng tạo lần thứ hai đòi hỏi thêm kỹ năng của đôi bàn tay. Nói cho cùng những thứ mà ta có được là do bàn tay làm ra một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua công cụ, phương tiện, máy móc. Không thể thành công mà không cần làm việc. Kỹ năng thao tác giúp bạn làm chủ được kỹ thuật trước khi có thể sáng tạo nó một lần nữa.

Kỹ năng chi tiết hóa, thực thi một sáng kiến còn quan trọng hơn ý tưởng cho ra đời sáng kiến ấy.

Việc duy trì hoạt động của một doanh nghiệp khó khăn và mất nhiều công sức hơn rất nhiều so với việc thành lập doanh nghiệp. Cho nên sáng lập bao gồm cả thành lập và sau đó là duy trì hoạt động trong suốt giai đoạn thơ ấu đầy khó khăn.

Con người có kỹ năng toàn diện là người có cái đầu của tiến sĩ , cái miệng của nhân viên tiếp thị và đôi bàn tay của người thợ cả. Hoặc là cùng lúc cả ba con người ấy hợp tác với nhau được thì mới có sản phẩm hoàn chỉnh. Không được bỏ lơi một khâu nào cả.

67.4 Kỹ năng của tương lai

Bill Gates đã nói: “Trước kia, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật như TV hay điện thoại phải mất nhiều thế hệ mới trở nên quen thuộc với mọi người. Riêng công nghệ máy tính chỉ trong vòng một thế hệ nó đã từ một thức không mấy ai quan tâm trở thành công cụ không thể thiếu đối với hầu hết các công việc và thực sự là nếu muốn quan hệ với người khác bạn cần phải biết sử dụng nó thành thạo”.

Vì lẽ đó trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay không biết ngoại ngữ có thể coi như bị câm điếc và không biết vi tính cũng coi như bị mù chữ”.

Hai ngôn ngữ lớn trên thế giới hiện nay là tiếng Anh và tiếng Hoa.

68. NĂNG LỰC

Giỏi làm một việc nhất định nào đó –đó chính là có năng lực. Vậy năng lực là tổng hòa của kiến thức, kỹ năng và hành động.

Năng lực của bạn chính là ưu thế cạnh tranh của bạn.

Chuyện con chó và con dê: “Một hôm cùng chơi với nhau dê non rủ chó con: hay là chúng mình chơi húc nhau đi. Chó con đồng ý. Lúc dê cúi đầu dương sừng ra phía trước chuẩn bị húc thì chó tạt ngang vắn vào sườn dê một cái. Dê bảo, bạn chơi thế là không đúng. Phải húc bằng đầu cơ mà. Và chó con lại cắn ngang sườn dê một cái nữa. Và cứ thế. Đến lần thứ ba thì dê cáu kỉnh: bạn không biết chơi. Không húc với bạn nữa”.

Hình vẽ

Dù muốn hay không bạn cũng chỉ có thể thực hiện mọi thứ theo cái năng lực bạn có. “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.

Nếu bạn thực sự khao khát được giàu có bạn phải có sự tập trung. Kiyosaky & Lechter khuyên rằng, hãy đặt nhiều trứng vào ít giỏ thôi. Nếu bạn có một ít tiền và muốn làm giàu, bạn cần phải tập trung chứ không nên cân đối. Nếu nhìn vào điểm khởi đầu của một nhân vật thành công, bạn sẽ thấy họ không hề cân bằng. Những người cố gắng cân bằng đều không đi đến đâu cả. Họ dậm chân tại chỗ. Để tiến lên, đầu tiên bạn phải làm cho không cân đối. Cứ thử nhìn cái cách bước đi của bạn mà xem.

69. TƯ DUY ĐỂ LÀM

Hãy đầu tư vào việc học trước tiên. Trên thực tế cột tài sản thực sự duy nhất, Kiyosaki&Lechter khẳng định, đó chính là trí tuệ của bạn, công cụ quyền lực nhất mà bạn có khả năng chi phối. Khi nói về quyền lực của sự lựa chọn, mỗi chúng ta đều đang chọn xem mình cần nhớ những gì khi đã lớn khôn. Bạn có thể xem TV suốt ngày, đọc một tạp chí hay đến một lớp học. Dường như mọi người chỉ bỏ tiền ra mua sự đầu tư hơn là phải đầu tư vào việc học cách đầu tư trước. Khi đột nhập vào nhà thì một chiếc TV, đầu xem đĩa hay một chiếc xe sẽ là đối tượng chứ một tên trộm không thèm đụng đến một cuốn sách nào cho dù rất quý. Tương tự như vậy, 90% dân số mua máy truyền hình và chỉ 10% mua sách dạy kinh doanh hay đầu tư về để nghiền ngẫm.

Tiếp tục, kiến thức ở trong sách vở nhưng vào đầu sau một quá trình tư duy mới trở thành tri thức. Kiến thức có thể rất nhiều nhưng tri thức là hữu hạn với mỗi người. Kiến thức là của chung nhân loại nhưng tri thức mới là của riêng bạn. Cho nên, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo không chỉ đơn giản là truyền kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác mà cốt lõi là chuyển giao công cụ tư duy. Một cách nói khác, học là để nắm vững phương pháp luận.

Cái gì quá cũng không tốt kể cả nhiều chữ quá. Ít chữ thì không hay nhưng nhiều chữ thì cũng không còn là hay nữa. Không bao giờ dại dột biến cái đầu thành “thùng đựng chữ”. Người ta sáng chế ra giấy để viết để giải phóng bộ não. Rồi người ta sáng chế ra máy in để không phải chép. Những điều có thể ghi chép lại được ở đâu đó, bằng chữ hay bằng hình, thì không nên lãng phí năng lực trí tuệ để nhớ. Sau một quá trình học tập nếu có những vấn đề thực sự cần phải nhớ thì chỉ cần nhớ xem thông tin đó, cuốn sách đó, vấn đề đó… được để ở đâu trong kho tàng kiến thức và làm sao có được nó khi cần với những thông tin cập nhật nhất. Như vậy, một chương trình đào tạo hay tự đào tạo tốt phải là một chương trình súc tích và không nhồi nhét những kiến thức thừa. Kiến thức thừa là loại ít hữu dụng trong cuộc sống. Phải cân nhắc sao cho những cái cần nhớ thực sự đúng là cần phải nhớ. Một sự lơ đễnh dù rất nhỏ khi chọn giáo trình có thể ảnh hưởng lớn vì tiếp theo nó là cả một quá trình học tập sai lệch.

Học vấn dễ bị nhầm lẫn với tri thức. Học vấn không đồng nghĩa với sáng tạo. Có học vấn cao vẫn có thể thiếu sáng tạo. Học vấn giúp cho sáng tạo đạt một tầm cao tương đương học vấn chứ bản thân học vấn không thay thế sáng tạo. Không phải cứ biết lắm thứ là sáng tạo. Nguyên lý dễ thuộc, nhưng hiểu đủ để ứng dụng vào cuộc sống mới khó. Thấy người làm tốt thì dễ, tự mình cũng làm được tốt mới khó. Sáng tạo là phải có tính hữu ích bên cạnh cái mới. Nếu không hữu ích thì kiến thức chỉ là dư thừa, là sự phô trương giấu bên trong nó cái rỗng không của sự tư duy kém cỏi.

Tri thức là sức mạnh nhưng kiến thức học được chưa phải là sức mạnh. Có tri thức thì làm được, có kiến thức thì chỉ góp ý kiến được thôi.

Có tri thức thì làm chủ, có kiến thức thì chỉ làm tư vấn. Có nghĩa là, quyền quyết định không phải là của người có kiến thức mà là người được tư vấn.

Trong công việc, những lỗi lớn nhận biết được ngay và bị chỉ ngay nhưng thực ra lại ít tác hại vì nó dễ được nhận diện. Vấn đề chính lại là ở các lỗi nhỏ. Có những lỗi nhỏ ở mức rất nhỏ nhưng bản chất có thể là lỗi hệ thống, không nhận diện được ngay vì dường như vô hại và chính lúc đó sự thiệt hại là không thể lường hết được.

Kinh nghiệm cũng là kiến thức. Kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn và một khi được giảng dạy trong nhà trường kinh nghiệm trở thành kiến thức của người học. Trước khi trở thành có thể giảng dạy được trong nhà trường, kinh nghiệm vẫn là tri thức của người thành công trong hoạt động thực tiễn. Và như thế, kiến thức cũng có thể được hiểu như là kinh nghiệm của xã hội được đúc kết để dạy cho thế hệ kế tiếp.

Giữa học chay và học bài bản kết hợp với thực hành có một sự khác biệt rất lớn, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển vũ bão của tri thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ như hiện nay. Và bất chấp sự khác biệt ấy, cái sự học cho dù được thực hành kiểu nào và kỹ đến mấy vẫn là học. Khi đụng chuyện, khi vận dụng thực tiễn, có khi chỉ một câu vè đúc kết kinh nghiệm dân gian, một lời mẹ dặn, lại có giá trị hơn cả ngàn trang sách. Và một lời thầy dạy thật quý ngàn vàng.

Nhật Bản đang cải cách để rút ngắn chương trình học còn một tuần 5 ngày. Đài Loan đang chuẩn bị bỏ cuộc thi vào đại học theo kiểu cũ, thay vào đó sẽ chọn lựa theo học lực. Ở Hàn Quốc hơn 1/3 thí sinh đại học sẽ được chọn theo năng khiếu, sở thích đặc biệt thay vì điểm số. Tharman Shanmugaratnam, bộ trưởng giáo dục đại học quốc gia Singapore, nói: “Hệ thống giáo dục hiện nay đã sản xuất ra một thế hệ lãnh đạo vững vàng trong thời gian đoán trước được. Nhưng bây giờ cần có một thế hệ lãnh đạo mới có đủ khả năng ứng biến ngay với những tình huống”.

Chỉ số IQ về trí lực của học sinh châu Á cho đến nay vẫn được đánh giá là cao hơn châu Âu. Sinh viên học sinh châu Á đi thi thường được giải cao trong các kỳ thi quốc tế so với sinh viên phương Tây nhưng khi đi vào thực tiễn thì người phương Tây lại linh động hơn, sáng tạo hơn và thành công hơn. Điều đó chứng tỏ tính hữu dụng và gần với thực tiễn của giáo dục ở châu Âu cao hơn ở châu Á. Và điều này cũng là cảnh báo nếu thực sự muốn làm một cái gì đó thì không nên quá lụy bằng cấp. Đạo diễn Đặng Nhật Minh có nhận xét: đã có quá nhiều phát biểu trên báo chí trong các hội nghị, hội thảo về sự yếu kém của khâu kịch bản, được coi như khâu quan trọng hàng đầu trong sáng tác điện ảnh; nhưng ít ai đề cập đến một khâu quan trọng hơn là khâu đào tạo trong điện ảnh mà đây lại là khâu yếu kém nhất. Thử hỏi một sinh viên vừa tốt nghiệp trường điện ảnh: “Trong năm học, bạn đã thu hoạch được gì?”, tôi đã từng nghe có người thành thực trả lời: chỉ có trong tay một mảnh bằng và bây giờ phải bắt đầu sự học cái nghề này từ đầu.

Vẫn biết rằng giữa cái học được ở trường và cái dùng được trong cuộc sống vẫn có một khoảng cách, cho nên khi nhìn vào một cuốn sách có thể thấy được Tâm và cái Trí của người soạn sách biểu hiện trong việc rút ngắn đi khoảng cách đáng sợ ấy để giúp những người học sau này trong cuộc sống. Cũng có thể vì thế nên người xưa coi trọng Tâm hơn Trí và tình thế ngày nay so với xưa cũng không khác.

Có thể là do những bất cập còn tồn tại trong giáo dục nên hiện nay những người học vấn trung-bình-khá thường là người thành đạt nhất trong cuộc sống. Một mặt có thể là do tính hiếu động, không chăm chỉ lắm khi phải học những điều nhàm chán nên những người trung-bình-khá bị điểm thấp ở những môn mà tự họ cho là không quan trọng. Mặt khác những người trung-bình-khá lại là những người biết chủ động lấp đầy những lỗ trống còn thiếu mà trong chương trình giáo dục không có.

Chỉ khi những người thành đạt nhất trong xã hội đồng thời cũng là những trò giỏi nhất khi còn là học trong trường thì giáo dục mới thực sự gắn kết với cuộc sống, gắn kết với thực tiễn.

70. HỆ THỐNG GIÁ TRỊ THỨ HAI

Tài chính là linh hồn của kinh doanh và sản xuất.

Tuy không phải là vật chất nhưng ngôn ngữ hiện thị vật chất. Cũng thế, tuy tiền không phải là giá trị nhưng tiền hiển thị giá trị. Do đó, khi coi ngôn ngữ là hệ thống thứ hai hiển thị vật chất thì tiền cũng có thể được coi như là hệ thống thứ hai hiển thị giá trị do con người sáng tạo ra. Nhờ ngôn ngữ mà trí tuệ loài người đã phát triển vượt bậc, và nhờ có tiền tệ mà kinh tế loài người đã phát triển ngoạn ngục.

Thuở hồng hoang không có tiền. Cần thì trao đổi trực tiếp vật này lấy vật kia. Vật trung gian đầu tiên dùng như tiền trong trao đổi là quý kim, là vàng hay bạc. Tài sản xã hội ngày một nhiều các kim loại như đồng, kẽm cũng được sử dụng làm tiền. Rồi tiền giấy xuất hiện, đây là một tiến bộ trong giao dịch kinh tế xã hội. Mệnh giá của tiền giấy là quy ước mặc định được mọi người công nhận. Thời gian đầu tiền được nhà nước đảm bảo bằng vàng, gọi là chế độ kim bản vị. Dần dần hàng hóa, hay nói chính xác là tài sản xã hội được dùng để thế chấp cho tổng giá trị tiền mặt được lưu hành trên thị trường.

Tiền không có thật, tiền không phải là giá trị, tiền là nợ – Kiyosaki&Lechter phân tích – mỗi tờ giấy bạc trước đây được bảo chứng bằng vàng hay bạc, nhưng giờ đây chẳng khác nào tờ giấy nợ mà những công dân đóng thuế của quốc gia in ra tờ bạc đó phải trả. Nếu yếu tố chủ chốt của đồng tiền là lòng tin đột ngột không còn nữa, cả nền kinh tế sẽ sụp đổ giống như một đống giấy vụn… và đâu phải một lần trong lịch sử thế giới, kinh tế toàn cầu đã chao đảo và suy sụp. Ngày nay, phần lớn nền kinh tế toàn cầu đều dựa trên nợ và lòng tin. Một khi tất cả chúng ta còn nắm tay nhau và không ai phá vỡ vòng tay ấy, mọi thứ sẽ tốt đẹp.

Như vậy là, khi tiền lưu hành nhiều hơn hàng là lạm phát, tiền giảm giá trị. Khi hàng nhiều mà tiền phát hành không đủ là giảm phát, tiền tăng giá. Khi nhà nước bội chi ngân sách thì lạm phát. Khi hàng hóa dư thừa không tiêu thụ được thì xảy ra giảm phát. Khi ngoại tệ đầu tư nước ngoài hay kiều hối về nhiều khi không có đủ tiền nội tệ tương ứng thì xảy ra giảm phát hay ngược lại khi bị chảy máu ngoại tệ thì lạm phát. Khi nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, mất cân bằng cán cân thanh toán thì cũng xảy ra lạm phát. Ở một mức độ nhất định lạm phát nhẹ có lợi cho xuất khẩu. Giảm phát có hại cho sản xuất. Lạm phát nặng dễ gây mất ổn định xã hội vì khi lạm phát người nghèo bị thiệt hại nặng hơn người giàu.

Không phải cứ có mệnh giá cao đồng nghĩa ngoại tệ mạnh. Ngoại tệ mạnh là tiền tệ của các nước có nền kinh tế phát triển, có thể chuyển đổi dễ dàng thành các ngoại tệ khác. Mạnh ở đây là sức mạnh của nền kinh tế của nước phát hành ra tiền tệ đó.

Như một tạo vật của trời đất, “cha mẹ sinh con trời sinh tính”, quy luật tác động của tiền tệ vào nền kinh tế cung tuân theo những quy luật riêng mang tính khách quan của nó. Như mọi vũ khí mà con người từng sáng chế ra, vùng tác động của tiền cũng có những giới hạn và khiếm khuyết. Vì thế điều cần lưu ý là không phải cái gì cũng có thể dựa vào tiền và cũng không phải cái gì cũng đổ cho tiền.

71. KHỞI NGHIỆP – XÂY DỰNG VÀ LÀM CHỦ HỆ THỐNG KINH DOANH

“Người ta đi cấy lấy công

Nay em đi cấy còn trông nhiều bề:

Trông trời, trông đất, trông mây.

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm,

Trông cho chân cứng đá mềm,

Trời êm, bể lặng mới yên tấm lòng.”

Trong cuốn “Dạy con làm giàu” Kiyosaki & Lechter có kể lại chuyện Ray Kroc, người sáng lập McDonald’s, nói chuyện với các sinh viên MBA của đại học Texas ở Austin, Ray đã hỏi cả lớp: “Đố các bạn, tôi kinh doanh gì?”

Hầu hết các sinh viên MBA đều cười vì nghĩ rằng Ray đang nói đùa. Không ai trả lời cả. Ray lại hỏi lần nữa: “Theo các bạn thì tôi kinh doanh cái gì ?”

Các sinh viên lại cười và cuối cùng một người la to: “Ray ai mà không biết ông kinh doanh hamburger chứ.”

Ray tỏ vẻ khoái trá : “Tôi cũng nghĩ các anh sẽ nói như vậy?” Ông ngừng một lúc và nói nhanh: “Này các bạn, tôi không kinh doanh hamburger. Tôi kinh doanh bất động sản!”

Ray đã dùng phần lớn thời gian hôm đó để giải thích những quan điểm của ông. Ray chú trọng vào việc bán hamburber, nhưng ông không bao giờ quên để mắt tới vị trí buôn bán. ông biết rằng bất động sản và vị trí của nó là nhân tố quan trọng nhất trong sự thành công của víệc kinh doanh. Về cơ bản, người mua hàng cũng phải trả một phần tiền để mua khu đất kinh doanh của tổ chức của Ray Kroc…

Suy nghĩ của thanh niên thường là học gì thì sẽ làm nấy. Kiyosaki và Lechter tiếp tục phân tích, nếu học luật, bạn sẽ trở thành luật sư, còn nếu học cơ khí thì bạn sẽ là thợ máy… Sai lầm trong vấn đề này là rất nhiều người quên nghĩ đến việc kinh doanh của riêng mình. Suốt đời họ quan tâm đến việc kinh doanh của một người nào khác và giúp cho người đó giàu lên.

Như vậy, doanh nhân không phải là nhà phát minh, không phải là nhà sáng chế mà là người biết sử dụng phát minh và sáng chế một cách hữu dụng. Người giàu không phải là người đầu tiên nghĩ ra chiếc xe đạp, và cũng chưa chắc đã là người biết cách chế tạo được chiếc xe tốt nhất. Nhưng có một điều chắc chắn họ là người đầu tiên biết được cách biến sản phẩm này thành doanh nghiệp của mình. Các thông kê cho thấy các tỷ phú không nhất thiết phải là nhà khoa học có những phát minh vĩ đại, nhưng phải là người có những sáng kiến sử dụng những phát minh vĩ đại để trở nên giàu có. Sở dĩ Bill Gates trở thành người giàu nhất hành tinh như hiện nay là nhờ ông ta biết phát huy sáng kiến về hệ thống điều hành máy tính DOS. Trên thực tế, hệ thống điều hành này không phải là của Bill Gates mà là của một người anh em kết nghĩa. Ông này đã chết vì tai nạn xe hơi sau khi uống rượu. Như vậy để trở nên người thành đạt trong kinh doanh, một nhà khoa học có nhiều phát minh sáng chế thì chưa đủ .

Có một khái niệm đó là trí thông minh tài chính. Vậy tại sao lại cần trí thông minh tài chính? Đó là bởi vì có như vậy bạn mới có thể tạo ra vận may cho chính mình, mới biết cách nắm lấy tất cả những gì đang xảy ra và làm cho nó tốt đẹp hơn. Theo Kiyosaki và Lechter, rất ít người biết rằng vận may là do con người tạo ra. Tiền bạc cũng vậy. Nếu bạn muốn được may mắn và kiếm được nhiều tiền hơn mà không phải làm việc quá sức, khi ấy sự thông minh tài chính là rất quan trọng.

Doanh nhân cũng không có nghĩa là người phải có nhiều tiền. Có nhiều tiền chưa đủ để trở thành doanh nhân. Doanh nhân là người tạo ra tiền. Kinh doanh mà kém thì càng dùng nhiều tiền càng lỗ nhiều. Theo Kiyosaki & Lechter, doanh nhân chính là người có trí thông minh tài chính. Nói cách khác, doanh nhân là người biết cách sử dụng đồng tiền xoay vòng để sinh lời cho mình. Nhiều người có tiền, có thời gian đúng lúc đang chín muồi, họ “cầm cờ trong tay nhưng không biết cách phất” nên cơ hội không mỉm cười với họ. Trong cuộc sống có rất nhiều người như thế: Mọi người đều có những cơ hội vụt sáng ngay trước mắt nhưng đã không thấy được nó. Phải mất nhiều năm sau khi nhận ra nó thì người khác đã làm thành công và giàu lên rồi.

Doanh nhân không dùng đồng tiền hiện có để làm giá trị cho mình. Như vậy có nhiều tiền là yếu tố cần nhưng không đủ để trở thành doanh nhân. Theo Kiyosaki và Lechter thì tiền không có thực, người nghèo và người trung lưu làm việc để kiếm tiền. còn người giàu thì làm ra tiền. Càng nghĩ tiền bạc là có thực thì càng phải làm việc vất vả hơn cho chúng. Nếu hiểu được rằng tiền bạc không có thực, sẽ làm giàu nhanh hơn.

Có thể nói, doanh nhân là cầu nối, là chất xúc tác, là người tạo ra cơ hội cho vốn và công nghệ gặp nhau để sinh lời. Trên bình diện xã hội mọi người đều có lợi cũng như trên bình diện cá nhân, doanh nhân cũng được lợi.

Kmh doanh còn là một nghệ thuật. Nghệ thuật là ở cho học vấn có thể thật giỏi, nhưng đó cũng mới chỉ là điều kiên cần, chưa phải là điều kiện đủ để có thể kinh doanh thành công. Kmh doanh thành công luôn gắn liền với nỗ lực sáng tạo của bản thân doanh nhân. Những lĩnh vực mới chưa ai dạy, thậm chí chưa ai đúc kết cũng vẫn có những doanh nhân giỏi hoạt động.

Binh pháp Tôn Tử viết: “Biết người biết ta trăm trận không thua”. Cho nên một tổ chức hướng nghiệp ở Singapore đã khuyến cáo các thí sinh rằng: ngay cả khi trúng tuyển vào một trường đào tạo nào đó thì chưa hẳn đã phù hợp với ngành nghề mà trường đó đào tạo Nói cách khác, người trúng tuyển kể cả khi tranh thủ khoa vẫn có thể là người đã chọn lầm nghề. Cho nên Rockefeller đã lưu ý rằng: “Có những nghề đòi hỏi thật khắt khe ở người muốn theo nó. Bởi vậy, có thể nói chủ yếu là do nghề chọn người, thay vì là người chọn nghề. Khi là người được nghề chọn, ta mới thật sự an tâm là phù hợp với nghề.”

Nên nhớ là trong việc khởi nghiệp làm giàu. bạn sẽ không bao giờ được dạy những điều quan trọng trong lớp học cả. Bạn học được những điều quan trọng đó chỉ bằng hành động. Phạm 1ỗi và khắc phục sai lầm. Đó chính là lúc đầu óc của bạn được khai mở.

Có những doanh nhân đi quá xa trước xã hội, kể cả lúc xã hội chưa kịp hiểu. Kể cả khi họ chưa được xã hội tôn vinh hay công nhận. Trong trường hợp kém may mắn có thể họ còn bị kỳ thị bất chấp những đóng góp của họ cho xã hội. Thế nhưng, họ vẫn sẽ thành đạt. Một doanh nhân giỏi không bao giờ làm cái mà nhiều người khác cũng đang lao vào làm. Không làm theo số đông. Không làm theo trào lưu. Bởi vì những việc kiểu theo trào lưu, theo số đông trước sau gì cũng sẽ thừa mứa. Nguyên tắc là: “Càng dễ càng khó càng khó càng dễ”. Việc càng dễ làm càng có nhiều người làm theo. Và khi đó hàng làm ra càng nhiều thì càng bị mất giá. Ngược lại, hàng càng khó làm càng dễ bán. Kinh doanh càng mang tính chiến lược càng ít ai có thể bắt chước được một cách dễ dãi.

Nói một cách khác, muốn thành công một cách bền vững phải là một trong những người tiên phong, phải hiểu được cái không mấy ai hiểu và phải biết làm cái không mấy ai biết, và phải làm cái không mấy ai làm, nhưng xã hội đang thực sự cần thế mà không mấy ai biết là xã hội cần. Hơn thế nữa còn phải biết học cách làm cho được cái mà không mấy ai làm được. Khởi nghiệp là phát hiện lỗ hổng thị trường rồi XÂY DỰNG & LÀM CHỦ một HỆ THỐNG KINH DOANH đáp ứng nhu cầu đó của xã hội để nhờ đó mình cũng có lợi. Đặc trưng của hệ thống kinh doanh là tự động vận hành theo những quy luật riêng của nó và bạn có thể sử dụng, mua, bán, đổi hoặc cho cái hệ thống mà bạn đã cất công xây dựng. Các ngân hàng sẽ không cho vay tiền để làm ăn đối với những người không có hệ thống.

Khi xây dựng hệ thống kinh doanh của mình, vấn đề là làm thế nào lãnh đạo mọi người chứ không phải là quản lý mọi người. Các nhà quản lý thường coi cấp dưới như hàng yếu kém. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo phải chỉ đạo những người khác khôn ngoan hơn mình. Tuy nhiên, khi muốn học cách đứng đầu một tổ chức thì điều khó khăn nhất là quản lý nhân sự. Bởi vì tìm được những nhãn viên tốt là rất khó. Kiyosaki và Lechter phân tích: Khả năng lãnh đạo là điều kế tiếp mà bạn cần học. Nếu bạn không phải là một nhà lãnh đạo giỏi, hạn sẽ bị “bắn từ sau lưng”, và trong kinh doanh cũng giống như vậy. Có nhiều cách để rút ngắn con đường khởi nghiệp. Một trong các cách đó là tìm một người đỡ đầu. Tuy nhiên, hãy thận trọng với những lời tư vấn mà bạn nghe được. Trong khi bạn phải luôn mở rộng đầu óc để sẵn sàng tiếp thu cái mới thì bạn hãy dè chừng xem trước hết lời khuyên đến với bạn từ nhóm người nào. Để học được cách điều hành các hệ thống cần thiết trong một công ty, bạn có thể làm công trong một công ty. Bạn có thể mất vài ba năm để hiểu hết mọi khía cạnh ngóc ngách trong chuyện kinh doanh. Sau đó, bạn có thể chuẩn bị từ chức và tự lập doanh nghiệp cho mình. Làm việc cho một đại công ty thành công cũng giống như việc học hỏi với người đỡ đầu của bạn. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi nhiều công sức. Có những lúc đầu óc không tỉnh lắm, ai mà chẳng có lúc như thế, bạn sẽ mất sức để thử nghiệm và chỉnh sửa theo cái kiểu thử và sai. Đó là chưa kể những giao tiếp pháp lý phát sinh khi bạn phát triển nguồn nhân lực của riêng mình. Điều lưu ý là làm công lãnh lương, “vừa làm vừa học”, cũng là con đường của nhiều gia đình giàu sụ đã vận dụng để giáo dục và truyền đạt kinh nghiệm qua bao thế hệ. Trong những ngày đầu tập sự, con cháu ông chủ – người thừa kế chính thức của công ty – phải tập làm việc dưới “nhiều tầng áp bức”. Và nhiều khi để tránh ưu đãi trong đối xử, nhiều gia đình đã gửi con tập sự ở một công ty bạn và giấu thân phận tại nơi làm việc.

Một cách nhanh chóng khác là mua đặc quyền kinh doanh (franchises). Khi bạn mua một đặc quyền kinh doanh có nghĩa la bạn đang mua lại một hệ thống kinh doanh “đã được thử nghiệm và chứng minh là thành công”. Thay vì phải tự tạo ra, nay bạn đã có sẵn hệ thống và tập trung vào phát triển nhân sự. Nhiều ngân hàng cho vay tiền mua đặc quyền kinh doanh dễ hơn là những doanh nghiệp nhỏ được lập bởi các ông chủ mới tập tễnh vào nghề. Các ngân hàng hiểu được tầm quan trọng của các hệ thống và khi làm việc với hệ thống kinh doanh hiệu quả, rủi ro cho vay sẽ được giảm thiểu. Đối với đặc quyền kinh doanh bạn cần lưu ý tránh “độc lập” thái quá. Bạn còn thiếu kinh nghiệm cho nên tốt hơn cả là làm chính xác theo những gì mà người bán đặc quyền yêu cầu. Đừng tìm cách vận hành cái hệ thống theo ý riêng của mình, vì đấy không phải là cái cách mà người bán muốn chuyển giao cho bạn. Bạn được quyền và rất nên yêu cầu công ty mẹ trợ giúp khi chuyện kinh doanh trở nên khó khăn bết bát. Không chuyện gì phải ngại cả, bởi vì bạn đã phải bỏ tiền ra mua. Nhu cầu là cái có thể tạo dựng. Doanh nhân là người biết phát hiện thấy những “lỗ hổng” của nhu cầu rồi “trám” lại, nhờ đó hưởng lợi cho mình và cho xã hội. Lấy chiếc xe làm ví dụ, nếu trong thiên hạ vào lúc đó không có cái gọi là xe máy thì làm gì có nhu cầu về xe máy. Nhưng một khi hàng hoá xuất hiện tự nó sẽ làm phát sinh nhu cầu một cách bất ngờ mà chỉ có nhưng nhà tiên tri mới dự đoán nổi.

Một vấn đề quan trọng khác với doanh nhân đó là giữ vốn. Biết rằng “đồng tiền liền khúc ruột” cho nên khi sử dụng tiền vốn trong kinh doanh phải rất cẩn trọng. Không được quá tin ai kể cả chính mình khi ra quyết định sử dụng đồng vốn. Quan trọng với doanh nhân không phải là làm ăn có lời nhiều hay ít mà là không được lỗ, nói chính xác là không được mất hết sạch vốn. Muốn không mất sạch vốn phải khởi đầu nhỏ. Nhỏ là nhỏ so với năng lực của bản thân. Tức là bất cứ lúc nào cũng có thể làm lại từ đầu được. Bạn nên thiết lập cho mình một mục tiêu đơn giản, dễ đàng và cố quyết tâm thực hiện theo mục tiêu đó. Muốn bảo toàn vốn thứ nhất là phải có dự án tốt. Thứ hai là quy trình quản lý tiếp theo phải tốt. Nhiều người nhầm tưởng rằng hiện chúng ta nghèo và thiếu vốn nhưng không hẳn vậy. Tiền thì bao giờ mà chả thiếu. Nhưng thiếu là thiếu tiền để tiêu xài còn tiền để đầu tư thì không thiếu. Tiền luôn có ở trong ngân hàng. Vấn đề không phải chỉ là ở chỗ không có tiền. Dự án mới là quan trọng và mang tính quyết định. Vì thế “cho vàng không bằng chỉ đàng làm ăn”.

Mặt khác, tiền là hàng hóa của ngân hàng. Mà đã là hàng hóa thì phải có nhu cầu tiêu thụ, một khi bạn dùng tiền của ngân hàng thì bạn là khách hàng của ngân hàng. Với tư cách là khách hàng thì ngân hàng cần bạn nhiều hơn là bạn cần ngân hàng. Nếu ngân hàng hoặc là không hoặc là chưa ý thức được vấn đề thì ngân hàng sẽ kinh doanh trì trệ. Trì trệ thì phải đổi mới, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường như hiện nay. Giá vốn là chi phí thực để có thể nhận được vốn bao gồm lãi suất chính thức, các loại phí chính thức và không chính thức. Khi lãi suất cao hơn một chút nhưng các phí thấp và minh bạch vẫn tốt hơn khi lãi suất chính thức thấp nhưng phí cao, nhất là các phí không chắc chắn do rào cản của thủ tục không hợp lý.

Một dự án thuộc loại kinh điển, tính chắc được mức lời thì dù lãi ít cũng tìm được người cho vay, ngược lại các dự án mới, xa lạ, tính mạo hiểm cao, mặc dù lời trong tính toán rất cao cũng ít người dám bỏ vốn cùng tham gia để cùng mạo hiểm đầu tư. Đây là một trở ngại tâm lý mà người đầu tư phải biết cách sớm vượt qua. Bởi vì sáng tạo là sự kết hợp đồng thời tính mới với tính hữu ích. Cho nên khi không dám làm cái mới thì cũng có nghĩa là không có sáng tạo. Vì trong làm ăn, không thể cứ đào bới, khai thác mãi một cách làm ăn cũ, một “thế mạnh cũ” mà vẫn đem lại hiệu quả cao được.

Có những người có sáng kiến, có khi rất nhiều sáng kiến nhưng không đủ tự tin hay kiên nhẫn để kinh doanh nên muốn để cho người khác ứng dụng nó. Những người như thế có thể là chuyên gia và chuyên viên, nhưng chắc chắn không phải là doanh nhân. Trong một tình huống xấu hơn khi họ muốn bán sáng kiến với giá cao mà không có ai hiểu được để mua đúng giá. Thế là một sáng kiến, có thể là tuyệt diệu, bị xếp xó. Thà rằng bán một giá có thể là thấp, thấp hơn nhiều so với giá trị mà nó sẽ mang lại cho công cuộc kinh doanh của người mua thì vẫn có lợi hơn cho người bán sáng kiến. Và như thế cũng là một cách biết kinh doanh. Một khía cạnh khác, phải đặc biệt lưu ý là xã hội lại rất cần những doanh nhân giỏi, đó là người có năng lực sử dụng được nhiều tiền vốn một cách có hiệu quả. Đồng tiền trong tay doanh nhân giỏi biết đầu tư, sử dụng tiền có hiệu quả giúp mọi người là “những con ngỗng đẻ trứng vàng” cho xã hội. Vấn đề là phải phát hiện những doanh nhân ấy để mà “chọn mặt gửi vàng”. Trong kinh doanh thì kinh doanh tài chính là một loại kinh doanh đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nhu cầu về vốn ở Việt Nam cao hơn mức bình quân thế giới. Đây có thể được hiểu như là một thế mạnh. Một khi doanh nhân chấp nhận được lãi suất cao hơn lãi suất của ngân hàng có nghĩa là những sáng kiến đầu tư chưa bị khai thác hết và vẫn còn một tiềm lực lớn trong xã hội. Tiếp cận được với nhu cầu này của xã hội, khai thác những sáng kiến đầu tư trong xã hội là một hướng phát triển bền vững. Cái lý của xã hội hóa là: dù ai đó trong chúng ta có giỏi, học vấn rất cao thì cũng không thể giỏi hơn cả thiên hạ. Và dù có suy nghĩ đến mấy cũng không kín kẽ bằng cả thiên hạ. Ứng dụng được sức mạnh của xã hội vào công việc của xã hội, qua đó mình cũng có lợi thì đó là cách khai thác tốt nhất tiềm năng xã hội một cách bền vững. Người ta ngăn những dòng sông lớn để phát điện. Nhưng “dòng sông tài chính, nơi mà tiền tệ chảy”’ mới thực sự là dòng sông lớn cần phải “khơi thông và đắp đập” và lợi ích của nó, cũng như dòng máu chảy trong huyết quản, thì không một dòng sông nào sánh nổi.

Học cách khiến tiền bạc phải làm việc cho mình là phải học suốt đời. Kiyosaki và Lechter nhắn nhủ rằng: Hầu hết mọi người học đại học trong bốn năm, sau đó không học nữa. Họ đi làm, lãnh lương, cân đối thu chi, và thế thôi. Trên hết. họ vẫn tự hỏi tại sao họ gặp những rắc rối về tiền bạc. Và họ nghĩ rằng cứ có nhiều tiền là sẽ giải quyết được mọi chuyện. Chỉ một số ít nhận ra rằng việc thiếu các kiến thức về tài chính là nguyên nhân làm nảy sinh các vấn đề khác. Để khởi nghiệp quan trọng số một là phát hiện chính mình. Mình phải biết mình giỏi cái gì. Trong những công việc cần phải làm thì tự đánh giá bản thân xem ra là khó khăn nhất. Những việc mình có năng lực thì khi thực hiện sẽ dễ đàng có được hiệu quả. Không có năng lực thì càng cố càng thua. Khi nhu cầu xã hội trùng với năng lực cá nhân, doanh nhân sẽ thu được lợi to lớn cho mình. Khởi nghiệp trước tiên là để tạo ra công ăn việc làm theo sở thích cho mình và sau có cũng là cho mọi người cùng làm với mình. Không cần phải khởi đầu thật lớn, năm 1990 ở Nhật có trên một triệu rưỡi công ty và 95% trong số đó là công ty vừa và nhỏ. Hai phần ba trong số 750.000 xí nghiệp hoạt động trên cả nước Nhật sử dụng dưới 9 công nhân. Doanh nghiệp là hạt nhân của nền kinh tế. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp là một bộ phận tạo nên sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Có bốn mảng hoạt động lớn của xã hội đó là: Nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và tri thức.

72. PHI NÔNG BẤT ỔN

Con người ta còn sống là còn cần cái ăn, cái mặc và vì thế nông nghiệp đã, đang và sẽ tồn tại mãi để nuôi sống nhân loại. Cùng với quá trình công nghiệp hóa có một sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị. Lao động nông nghiệp ở nông thôn sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng khi công nghiệp hóa bước sang giai đoạn hoàn tất. Một số vùng đất trước đây có hoạt động nông nghiệp có thể không thật trù phú nhưng nay có nguy cơ trở thành hoang tàn do lực lượng lao động trẻ bỏ đất ra đô thị làm ăn. Với cơ khí hóa nông nghiệp nhà nông sẽ canh tác được nhiều ruộng hơn và năng suất thu hoạch sẽ cao hơn. Cùng với quá trình công nghiệp hóa Việt Nam cũng sẽ phải có cách đi tương tự các nước giàu, tức là phải hỗ trợ theo một cách nào đó cho nông nghiệp để đảm bảo lực lượng sản xuất ở nông thôn và an ninh lương thực.

Các con số thống kê cho thấy nền nông nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm vài phần trăm. Nhưng thực ra nếu tính cả các nhà máy phục vụ nông nghiệp,các trường, viện nghiên cứu, y tế, tài chính, tín dụng… phục vụ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm thì phần cho bữa ăn sẽ chiếm vài chục phần trăm của nền kinh tế chứ không phải chỉ có vài phần trăm như cách tính của các con số thống kê về nông nghiệp.

Cần lưu ý là trong khi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cung cấp 90% lượng lúa xuất khẩu, 60% thủy sản xuất khẩu nhưng vẫn là vùng kinh tế nghèo thứ ba tính chung cho 7 vùng kinh tế của Việt Nam. Việc xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu vào hàng đầu thế giới cũng không giúp Việt Nam thay đổi được bao nhiêu trong bảng xếp hạng kinh tế của mình so với các nước khác.

Trong quá trình công nghiệp hóa các nước Châu Âu Mỹ cũng như Nhật Bản đã tăng tiềm lực công nghiệp lên 300 lần, trong cùng thời gian đó nông nghiệp chỉ tăng vài lần. Và để phát triển công nghiệp trong thế ổn định phải tính đến chuyện tăng giá nông sản thực phẩm hoặc trợ cấp để đảm bảo an ninh lương thực. Hiện nay 50% ngân sách EU là dùng để trợ cấp nông nghiệp. Tăng giá có lợi chung cho nông dân, cả trong nước và nước ngoài. Trợ cấp mang lại cái lợi chỉ riêng cho nông dân bản địa, làm phát sinh tiêu cực và thực chất là bóp méo bức tranh giá cả, đi ngược lại tiêu chí của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.

73. PHI CÔNG BẤT PHÚ.

Khi nói đến các nước giàu người ta dùng cụm từ: các nước công nghiệp phát triển. Thiếu một nền công nghiệp thì không thể nói đến dân giàu nước mạnh. Dù muốn hay không công nghiệp vẫn là xương sống của nền kinh tế cho dù công nghiệp chế tạo hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm khoảng trên 25% GDP và sẽ còn 10% khi bước vào giai đoạn kinh tế tri thức hay kinh tế hậu công nghiệp. Tri thức có thể chiếm 80% hay hơn nữa trong giá trị sản phẩm nhưng thiếu công nghiệp chế tạo mọi ý tưởng sẽ trở thành vô nghĩa.

Thực chất quá trình công nghiệp hóa Việt Nam cho giai đoạn 20 năm tới là cơ khí hóa, tức là chuyển từ lao động thủ công sang làm việc bằng máy, chủ yếu là máy công cụ. Trong giai đoạn này cơ khí chế tạo máy là cái gốc của gốc rễ và đóng vai trò chủ lực tương tự như cây lúa trong sản xuất công nghiệp. Chỉ cần nhìn vào các sản phẩm cơ khí là có thể đánh giá được tiềm lực công nghiệp của quốc gia. Với cái giá sắt chỉ ngang với giá gạo loại ngon vậy mà giá một chiếc xe gắn máy loại thường nặng vài chục ký cũng đáng giá gần một tấn gạo ngon. Thế mới biết, cái giá trị gia tăng do công nghiệp cơ khí thật khủng khiếp.

Trong khi dân Việt Nam còn chưa bước vào cuộc cách mạng cơ khí thì các nước công nghiệp đã chuẩn bị chuyển giao công nghệ sản xuất cơ khí cho các nước có nhân công rẻ hơn. Trong những năm tới đây chúng ta sẽ chứng kiến làn sóng xuất khẩu sản phẩm cơ khí từ các nước nghèo sang các nước giàu giống như hiện tượng hàng dệt may hay thủy sản hiện nay. Các doanh nghiệp Việt sẽ đóng vai trò gì trong làn sóng ấy khi mà phần lớn hàng hóa tiêu dùng cơ khí trong nước hiện đều phải nhập khẩu.

Trong những năm 80 Việt Nam đã thành công trong việc đưa nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu. Vào những năm đầu thế kỷ 21 này, mặt trận hàng đầu của Việt Nam trong phát triển công nghiệp là cơ khí. Chỉ khi nào có dư giả các sản phẩm cơ khí giống như hiện tượng gạo và cà phê trong sản xuất nông nghiệp hiện nay thì mới có thể coi Việt Nam hoàn tất cơ khí hóa. Hoàn tất cơ khí hóa thì coi như đã hoàn tất được cái khung cơ bản của công nghiệp hóa. Đây là giai đoạn mà trên cơ bản lao động đều có tay nghề và gần như không có lao động thủ công.

Tự động hóa thực sự là quan trọng cùng với sự gia tăng các sản phẩm phần mềm điều khiển các máy công cụ. Trong tình hình sở hữu trí tuệ còn bị xâm phạm như hiện nay, muốn bảo vệ bản quyền cho phần mềm thì giải pháp quan trọng số một có lẽ là phần cứng. Nhu cầu phần mềm sẽ thực sự gia tăng cùng với nền công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ. Chính việc đòi hỏi khắc khe của việc chế tạo các thiết bị đồng bộ sẽ buộc các nhà viết chương trình phần mềm làm việc cẩn trọng hơn và công việc thảo chương phẩn mềm ngày càng có giá trị cao hơn. Có điều là tuy phát triển phầm mềm đòi hỏi trí tuệ nhiều hơn nhưng thực ra lại dễ dàng hơn nhiều so với việc xây dựng một nền công nghiệp đại cơ khí. Khi chưa có một nền đại công nghiệp chỗ đứng của phần mềm vẫn không vững chắc.

Nói cho cùng mọi nỗ lực của nhà sản xuất là để có hàng tiêu dùng. Đây là mục tiêu cuối cùng phục vụ tiện nghi đời sống. Thị trường hàng công nghiệp nhẹ và tiêu dùng sẽ là thị trường lớn nhất, là phần có giá trị gia tăng lớn nhất, là cơ hội vàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

74. PHI THƯƠNG BẤT HOẠT

Trông mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

Hàng hóa làm ra phải bán được. Một mặt là hàng phải tốt, nhưng như thế chưa đủ. Phải có hàng hóa đáp ứng đúng nhu cầu xã hội và biết cách bán hàng. Hàng xấu thì khỏi bàn, nhưng hàng tốt mà tiếp thị kém thì đó cũng là điều đáng buốn như thế. Ngày nay chiến lược cạnh tranh bằng giá cả là hạ sách, và có thể nói, hàng hóa bây giờ phải đạt được chất lượng mới bán được ra thị trường thế giới. Do vậy: sản phẩm phải có tính độc đáo mới thu hút khách. Nét độc đáo đó không chỉ là hình thức, công dụng của sản phẩm mà còn là các dịch vụ kèm theo.

Tiếp thị lả một nghệ thuật khó. Như một nghệ thuật, nó đòi hỏi lòng say mê, óc tưởng tượng sáng tạo và một lao động trí tuệ vất vả để tạo được tính độc đáo. Trong nghệ thuật, đáng xấu hổ nhất là việc sao cóp nhạt nhẽo.

Marketing không chỉ là chào hàng hay bán hàng, marketing gồm 4 bước phải làm:

  1. Xác định nhu cầu thị trường, qua đó định chủng loại sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ…
  2. Xác định kỹ thuật, chất lượng và giá cả tương xứng phù hợp với năng lực sản xuất và hay ưu thế cạnh tranh của công ty.
  3. Quảng cáo và chào hàng.
  4. Phương thức giao hàng và hậu mãi.

Theo ông Alain Ruscio, nhà nghiên cứu và là cựu phóng viên báo Nhân Đạo (Pháp) thường trú tại Hà Nội: “Cái tiếng là nước nhỏ đã mang lại nhiều sự ủng hộ cho Việt Nam trong chiến tranh, nhưng bây giờ thì khác rồi”. Đã đền lúc chúng ta cần để ý chăm chút cho một thương hiệu chung, thương hiệu mang tên Việt Nam. Một chuyện ở chợ trời bên nước Đức, một cô gái đi mua nước hoa. Sau một hồi lựa chọn kỹ lưỡng, cô thích một mùi hương. Hỏi giá tiền. Rất mềm. Cô gật đầu đồng ý rồi hỏi thêm nước hoa này do đâu sản xuất. Nghe từ Việt Nam, cô bỏ đi”.

Các doanh nghiệp Việt Nam đang ở trong trạnh thái chuyển dịch mạnh về hướng tăng cường quảng cáo. Dù còn thấp so với bình quân thế giới, nhưng nhìn đâu cũng thấy xuất hiện biểu trưng và thương hiệu của nhiều doanh nghiệp đang tiêu tiền một cách lãng phí. Người ta rút ra một kinh nghiệm: Những chiến dịch tiếp thị không nhằm bán một sản phẩm hay dịch vụ gì cụ thể mà chỉ nâng cao chung chung hình ảnh của công ty trước đại chúng sớm muộn gì cũng thất bại.

Có một điều cơ bản cần luôn chú trọng là các trường hợp quảng bá tên tuổi thành công là cả một quá trình phối hợp giữa sản phẩm tốt, dịch vụ chất lượng cao, tổ chức bộ máy công ty hiệu quả và chăm sóc khách hàng tốt. Cho nên điều cần thật sự chú ý là trước khi quyết định cho in hàng ngàn tờ lịch, đặt làm hàng ngàn áo thun hay mua một bảng quảng cáo trên sân vận động nên đặt câu hỏi người tiêu dùng đã có cơ hội tiếp cận sản phẩm của mình chưa, sau khi quảng cáo người tiêu dùng sẽ mua được sản phẩm ở đâu, hệ thống đại lý được tổ chức ra sao, có thuận tiện không.

75. PHI TRÍ BẤT HƯNG

Giống như chơi cờ phải sạch nước cản, đặc trưng của công nghệ là tính đầy đủ. Chưa sạch nước cản thì không chơi môn cờ được. Trong kinh doanh cũng vậy. Chỉ cần thiếu một kỹ thuật, đấy có thể chỉ là một kỹ thuật xưa cũ, thì cũng có nghĩa là không có sản phẩm, cho dù các kỹ thuật khác có thể mang tính kỹ thuật rất cao.

Trong khi các trường, các viện thường hay chú trọng vào các vấn đề mang tính đột phá, mũi nhọn giúp cho học sinh sống và sản xuất lại là sạch nước cản, nên chúng ta không ngạc nhiên học giỏi vẫn có thể gặp khó khăn khi đi xin việc.

Làm chủ doanh nghiệp lại càng cần chú trọng vấn đề hiểu biết toàn diện trong nghề của mình. Học trò có thể trả lời rằng vấn đề này không có trong chương trình nên không biết. Nhưng chủ doanh nghiệp thì khác, khi muốn làm ra một sản phẩm chủ doanh nghiệp không thể nói không biết. Không biết, dù chỉ là một chi tiết nhỏ cũng có nghĩa là không có sản phẩm.

75.1 Giá trị

Chúng ta đang ở trong giai đoạn mà kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức đặc trưng bởi hàm lượng tri thức trong một sản phẩm là trên 80% và còn tăng hơn thế nữa. Khi thế giới chuyển từ sản xuất công nghiệp sang sản xuất tri thức thì trí tuệ ngày càng đóng vai trò quyết định hơn cho phát triển kinh tế.

Không có một sản phẩm nào do người ta làm ra mà lại không bán được. Vấn đề là bán được với giá nào. Khi may một cái áo model và áo hết model thì công may và tiền vải gần như ngang nhau. Cái khác nhau là ở giá bán và lãi cũng nằm ở đấy.

Các loại hàng hóa và dịch vụ khác cũng vậy, đặc biệt là y tế và giáo dục, cùng một giá thành để làm ra, nhưng người sử dụng sẽ ủng hộ các sản phẩm được thiết kế tốt. Cái giá trị thặng dư gia tăng đem lại cho sản phẩm dựa trên hàm lượng tri thức ẩn trong nó là cơ sở tồn tại của những công ty sản xuất nhưng không chế tạo. Đây là hàng hóa mang nhãn của công ty này nhưng được đặt gia công tại công ty khác.

Hàm lượng tri thức chứa đựng trong sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ có thể nhận biết và định lượng được. Hàm lượng tri thức càng cao thì giá trị gia tăng của sản phẩm càng lớn và sức cạnh tranh càng mạnh.

Giá trị = Lượng x Chất

Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, giá trị của sản phẩm chính là lượng và chất của lao động được đầu tư cho sản phẩm.

75.2 Gốc và ngọn

Những sáng chế đầu tiên đặt nền móng cho công nghệ luôn là những sáng chế ở mức cao. Đây là sáng chế gốc. Dần dần mức sáng chế giảm đi. Tuy nhiên điều cần lưu ý là, những sáng chế ở mức cao thường chưa đem lại lợi nhuận. Công nghệ lúc đó mới nằm trên giấy tờ hoặc mới có vài mẫu chế thử, lợi nhuận của giai đoạn này là âm.

Khi công nghệ hoàn tất, sản phẩm được đem bán rộng rãi, lúc này các thủ thuật được dùng để giải quyết vấn đề thuộc phần ngọn. Điều thú vị là một sự hoàn thiện không lớn cũng đem lại lợi nhuận cao. Một minh chứng là với trình độ học vấn không cần cao của nông dân, vẫn sáng chế được những sản phẩm có giá trị rất lớn. Có khi đó là bước ngoặt lớn về kinh tế mà con tôm sú nước mặn là một ví dụ tuyệt diệu.

Có gốc thì vững chắc, có ngọn mới vươn cao. Nói một cách khác nghĩa là không nên quá chú trọng ứng dụng cũng như không nên đặt quá nặng cơ bản. Dù có được đào luyện nghiêm chỉnh bên các nước Âu Mỹ nhưng nếu quá cơ bản vẫn không làm được việc giống như gạo đầy kho nhưng bụng vẫn đói vì không biết cách nấu cơm mà ăn. Các công ty lớn thường đầu tư dài hơi, công ty nhỏ thường lấy ngắn nuôi dài.

Trong Binh thư yếu lược Trần Hưng Đạo có nói: “Lấy đoản binh chế trường trân âu cũng là lẽ thường binh pháp”. Phải biết lượng sức sao cho hiệu quả là cao nhất có thể, tùy vào vị trí tương đối của mình.

76. TẤC ĐẤT TẤC VÀNG

Đất là hàng hoá đặc biệt, tuân theo một giá trị cung cầu riêng. Tài sản xã hội có thể tăng giá trị lên rất cao nhưng đất không nở thêm. Các học thuyết kinh tế xưa nay đều khẳng định tầm quan trọng rất cao của đất. Theo Lê Văn Tứ, đất là một yếu tố cấu thành của sản xuất. Thời tiền công nghiệp, sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố: lao động và đất. Thời công nghiệp thêm yếu tố thứ ba: tư bản (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…). Thời hậu công nghiệp thêm yếu tố thứ tư: tri thức.

Có một mối tương quan thuận giữa giá đất và tổng sản phẩm quốc nội GDP. Có nghĩa là nếu đất nước giàu có thịnh vượng lên thì giá đất tăng theo. Mặt khác, cũng có thể hiểu là một đất nước càng trở nên giàu có, tổng sản phẩm quốc nội càng lớn thì tổng giá từ đất của toàn xã hội cũng lớn lên so với lúc còn nghèo. Nói một cách khác nữa nghĩa là khi thu nhập trung bình đầu người của một địa phương, vùng, khu vực hay quốc gia tăng cao thì giá đất ở đó cũng cao theo. Thực tế tại hầu hết các nước Âu Mỹ ngày nay, hoạt động liên quan đến bất động sản chiếm khoảng 25-30% cơ cấu tổng sản phẩm quốc gia. Ngược lại, tỷ lệ này ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, chỉ vỏn vẹn 2%.

Bản thân đất không có người ở thì không có giá. Người ở càng đông, đất càng có giá. Khi mật độ dân cư ở một mức nhất định thì kinh tế mới phát triển và giá đất lại càng tăng theo. Đất tăng giá nhanh nhất là ở vùng giáp ranh, một miếng đất ruộng, không có người ở nhưng khi đã trở thành đất đô thị sẽ có giá cao khủng khiếp nếu so với vài năm trước đó. Giá đất cũng tăng dọc theo các tuyến đường giao thông thuận tiện. Điện, nước, điện thoại và vùng phủ sóng điện thoại di động cũng góp phần làm tăng giá trị của đất. Giá đất ở thủ đô, cảng lớn và thành phố lớn cao hơn giá đất thành phố nhỏ. Có một mối tương quan thuận giữa thu nhập trung bình đầu người của một thành phố hay một khu vực và mật độ dân cư sống hay làm việc tại đó với giá đất ở đó. Khi thu nhập tăng giá đất tăng. Khi mật độ dân số ở một khu vực tăng thì giá đất cũng tăng.

Giá đất khu vực = thu nhập đầu người x số lượng dân cư

Điều này lý giải tại sao một nước công nghiệp phát triển thu nhập cá nhân của cư dân cao nhưng giá đất thấp do dân cư ở thưa thớt so với một nước nghèo hơn nhưng dân cư ở tập trung. Như vậy, cùng là thành phố nhưng khi thành phố của đất nước có cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc đa phương tiện cũng như giao thông tốt thì chênh lệch giá giữa các vùng không cao vì người dân có thể ở rất xa nơi làm việc, thậm chí cả trăm km mà vẫn đi làm hàng ngày bằng phương tiện giao thông công cộng hoặc xe riêng. Trong khi đó nếu giao thông không được tốt, nhất là giao thông công cộng, người dân sẽ ở xúm xít vào các khu nội thành làm nên các đại đô thị đông đúc. Đó chính là nghịch lý tạo nên giá đất cao tại các đô thị Việt Nam nếu so với thành phố các nước châu Âu công nghiệp phát triển, trong khi kinh tế Việt Nam chưa phát triển.

Đặc biệt các khu công nghiệp cũng góp phần làm gia tăng giá đất. Một phần do nhu cầu của bản thân các nhà máy trong khu công nghiệp. Mặt khác nhà máy nào cũng có công nhân lao động, mà người lao động khi có thu nhập thấp thường là thích ở gần nơi làm việc. Công nhân trong giai đoạn đầu sẽ thuê và cùng với thời gian sẽ mua đất xây nhà riêng, như vậy cũng góp phần làm tăng giá đất khu vực quanh nhà máy. Điều này là quan trọng khi đầu tư cho giao thông ở Việt Nam chưa tương xứng với nền kinh tế, trong đó quan trọng số một là giao thông công cộng. Vì thế cho nên khi đầu tư nhà máy, nhà đầu tư cần tính đến biến động gia tăng giá đất ngay trong quá trình đầu tư và đền bù giải tỏa mặt bằng xây nhà máy. Đây không đơn giản là đầu cơ mà do quy luật cung cầu tạo ra. Tốt nhất khi xây nhà máy nên học theo kinh nghiệm Nhật Bản là quy hoạch luôn diện tích xây dựng nhà ở cho công nhân của mình để chủ động trong sản xuất. Sau này khi phát triển, chính quỹ đất dôi ra trên nền giao thông công cộng phát triển là một bảo đảm cho sản xuất bình ổn.

Có một cách giải quyết sáng tạo là trồng cây xanh cách ly khu dân cư với môi trường nhà máy trong khu công nghiệp. Khi không chú ý một cách thích đáng tỷ lệ, những công nhân ở quanh nhà máy và các hộ dân làm dịch vụ cho công nhân dần dà sẽ tạo nên khu dân cư mới gây áp lực về môi trường cư dân lên chinh nhà máy. Việc quan trọng nữa là phải xử lý ô nhiễm môi trường tận gốc. Cố gắng không gây ô nhiễm không khí và nước thải ở mức tốt nhất có thể. Và liệu có thể cứ dời nhà máy được mãi hay không khi mà nhà máy ở đâu công nhân sẽ phải theo đấy. Mà công nhân ở đâu là y tế, trường học, dịch vụ phải mở theo đến đấy. Nói đơn giản là nhà máy đi đâu dân cư theo đấy. Dân ở đâu thì giá đất ở đấy tăng. Không tránh được.

Giá đất không tăng đều đặn từng ngày, từng năm mà tăng theo từng chu kỳ. Giống như một con cua phải tích lũy vật chất đến một mức nhất định mới lột. Sau khi lột thì phải đợi rất lâu mới lột được lần kế tiếp. Chu kỳ đột biến về giá của đất thường là 10 năm. Khi có đột biến về phát triển kinh tế, giá đất thường tăng do nhu cầu mặt bằng sản xuất kinh doanh cũng như nhu cầu nhà ở tiện nghi tăng theo với thu nhập.

Do vậy, giá đất ở một thời điểm nhất định có thể tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP và như vậy là vượt qua giá trị thực của đất trong mối tương quan với thu nhập. Trong tình hình đó, sau khi tăng quá đà giá đất đứng lại khá lâu và khi kinh tế theo kịp thì giá đất mới tăng theo được. Sự tăng giá đất càng cao so với mức tăng GDP càng chứng tỏ tâm lý lạc quan. Và ngược lại, khi giá đất thấp hơn sức tăng GDP chứng tỏ sự bi quan của dân chúng trong công việc đầu tư làm ăn. Quá lạc quan dễ gây sốt nóng, quá bi quan dễ gây sốt lạnh. Mọi tác động vĩ mô làm cải thiện môi trường đầu tư đồng thời có tác dụng làm tăng giá đất và ngược lại.

Có một sự trùng hợp không ngẫu nhiên của hai đợt tăng giá đất vào đầu những năm 90 và lần thứ hai là hiện nay, năm 2003 này, với những đổi mới tư duy về chính sách vĩ mô tại Việt Nam. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trên dưới 7% một năm dự báo có một động thái tương tự từ giá đất nhưng bao giờ giá đất cũng tăng chậm hơn một nhịp. Và vì chậm hơn một nhịp nên có những thời điểm giá đất phải vượt theo. Nếu công tác quy hoạch đi kịp với nhu cầu của cuộc sống thì sẽ không xảy ra sốt giá đất. Kể cả sốt nóng cũng như sốt lạnh.

Giá cả là do quy luật cung cầu chi phối. Chuyện giá đất cũng vậy. Nếu tăng cung bằng cách tạo điều kiện dễ dàng cho hoạt động xây dựng, kinh doanh nhà đất, cầu được đáp ứng, giá sẽ giảm và giới đầu cơ cũng không còn đất sống. Để kiểm soát việc mua bán nhà đất không thông qua chính quyền địa phương, Nhà nước cũng đã bắt đầu đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Để giảm bớt việc xây cất trái phép; quy trình cấp giấy phép xây dựng đã bước đầu được đơn giản hóa (theo TBKTSG ngày 21-8-2003).

Giá đất trong một mức độ nhất định đóng vai trò như là một thước đo mức độ đầu tư xã hội, một hàn thử biểu kinh tế, một loại chỉ số phát triển kinh tế giống như chỉ số Dow Jones của thị trường chứng khoán. Như vậy nếu giá đất tăng đều đặn chứng tỏ kinh tế đang phát triển. Còn nếu giá đất ngừng tăng cũng có nghĩa là đà tăng trưởng kinh tế cũng bị chậm theo. Đất rớt giá chỉ khi kinh tế trì trệ và ngừng phát triển.

Tâm lý người dân cũng quan trọng trong việc hình thành giá đất. Người Việt thích tập trung vào các đô thị lớn, thích ở nội thị và cũng là góp phần làm tăng giá đất. Giá đất tăng làm giá vàng giảm. Giá đất tăng là biểu tượng của sự ổn định và phồn thịnh. Ngược lại, giá vàng tăng là biểu tượng của sự bất ổn.

Có 3 yếu tố báo trước rằng giá đất sẽ tăng. Một là, khi lương bình quân xã hội đã tăng gấp nhiều lần nhưng giá đất hiện vẫn như cũ. Hai là, kiều hối và vốn đầu tư FDI từ nước ngoài tăng nhanh. Ba là, sự cởi mở trong chính sách hỗ trợ đầu tư làm luân chuyển nguồn vốn trong dân. Tuy nhiên một khi đã có tăng trưởng thì giá đất thường vượt qua giá trị thực và tiếp theo là một giai đoạn giống như là sốt lạnh.

Những sáng kiến đầu tư của người dân được hình thành trong môi trường xã hội một cách đều đặn, tuy có lúc nhanh lúc chậm, những luôn có và tích luỹ lại, khi môi trường đầu tư vì một lý do nào đó không khai thông được một cách thích hợp. Và khi có một biến động mang tính cách mạng về chính sách, tạo dòng chảy đầu tư lúc đó những sáng kiến sẽ được đồng loạt áp dụng mang lai sự phát triển vượt bậc về kinh tế.

Trong giai đoạn như vậy những người cải cách theo hướng kinh tế thị trường ưa nói đến khái niệm: “bàn tay vô hình” tự nhiên điều tiết nền kinh tế. Tuy nhiên nếu không có sự sáng tạo tiếp tục, tháo gỡ tiếp tục từ nhiều phía cho những khó khăn của quá trình phát triển sản xuất thì có thể tiên đoán trước sự chậm lại của nền kinh tế. Tình huống này được gọi là tổng khủng hoảng xã hội về sáng kiến đầu tư. Đặc trưng của kiểu này còn có thể gọi bằng một tên khác là khủng hoảng thiếu cơ hội để đầu tư.

Trên thực tế trong tình hình đó, toàn bộ số tiền tích luỹ được không biết đầu tư vào đâu sẽ dẫn đến sự giảm sút của lãi suất ngân hàng. Thấy giá vốn quá rẻ nhiều người không rót tiền vào ngân hàng mà đầu tư vào đất mong nhận được lãi suất bình quân xã hội. Nhưng khi dòng đầu tư quá nhiều vào đất sẽ lại làm giá đất sụt giảm và những ai không đủ mạnh về vốn sẽ thất bại trong sự nôn nóng tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

Có điều là không phải cứ tăng là sốt. Có thể nói đến sốt đất khi giá đất vượt quá tốc độ tăng GDP của khu vực một cách đáng kể. Tức là khi thu nhập người dân, tính cả người nhập cư và kiều dân, tăng gấp 3 lần và giá đất cũng tăng 3 lần hoặc hơn một chút thì đó là điều bình thường, không phải là sốt.

Khi giá đất rẻ, người ta xây nhà trệt, có sân vườn. Khi giá đất cao hơn một chút người ta xây nhà hình ống, nhà căn phố. Còn khi giá đất rất cao người ta xây nhà cao tầng. Không ai xây nhà lầu khi giá đất rẻ hơn giá đúc sàn bê tông. Khi đất càng cao giá hơn so với giá sàn đúc người ta xây nhà càng nhiều tầng.

Chúng ta hay nói gộp là nhà đất. Tuy nhiên nhà khác đất rất căn bản. Giá đúc sàn rẻ theo thời gian vì càng ngày giá vật liệu xây dựng càng rẻ và công nghệ xây dựng ngay càng hoàn thiện. Các khu trung tâm có cá đất cao gấp 10-20 lần giá đúc sàn nên cần làm nhà cao tầng. Khu ngoại vi không nên xây nhà tầng khi giá đất chỉ bằng một phần giá đúc tầng. Cùng một món tiền đầu tư nếu mua đất thì giá cả sẽ ngày một tăng cùng với kinh tế phát triển còn giá xây nhà thì cũng trong thời gian đó ngày một giảm nhờ các tiến bộ kỹ thuật. Nếu phân tích theo cái cách của Kiyosaki và Lechter là hễ mua một cái gì đó mà sau đó có sinh lời thì đấy là tài sản, còn nếu không sinh lời đó là tiêu sản. Nhà vẫn có thể không phải là tài sản nếu giá trị nhà bị giảm. Tuy nhiên, người ta ở tức là ở trong nhà chứ đất trống thì làm sao sống ở đó được. Có nghĩa là nếu cái một vùng đất chẳng ai xây nhà thì đất cũng không có giá. Cũng giống như làm đường, bản thân việc xây nhà cũng là một yếu tố làm giá đất tự nó tăng lên. Nhà và đất nhờ thế tuy hai mà vẫn là một.

Có điều cần lưu ý là một nhà đầu tư khôn ngoan không dại gì đầu tư quá nhiều vào đất nhất là trong lúc giá đất “đang lên vù vù”. Giá đất sau khi đi lên quá nhanh sẽ là đi xuống. Thực ra sản xuất mới là gốc của các cái gốc. Phải có một sự cân đối giữa sản xuất với các loại hình đầu tư khác. Các đầu tư ngắn hạn vào đất để kiếm lời thường không thành công nhất là khi dùng vốn vay. Đất không linh động như vàng hay ngoại tệ mạnh khi được dùng làm vốn dự trữ.

Kinh nghiệm Nhật Bản vào những năm 1990 đã cho thấy một nguy cơ khi dùng đất làm vốn dự trữ đầu tư. Bởi vì giá đất cũng là một “hàn thử biểu kinh tế”, khi ăn nên làm ra thì không sao nhưng khi kinh tế trì trệ thì giá đất bị xuống đầu tiên làm suy yếu đi hệ thống tài chính vốn rất mạnh của Nhật Bản.

Khi lãi suất ngân hàng cao giá trị tiền mặt tăng. Lãi suất ngân hàng thấp gây giảm giá trị tiền mặt. Biểu hiện của giá trị của tiền tăng lên là giá vàng giảm, và ngược lại giá vàng tăng là giá tiền giảm. Trong suốt giai đoạn vừa qua việc lãi suất đô la ở các ngân hàng Mỹ liên tục giảm dẫn đến giá vàng thế giới tăng, tức là giá tiền đô la giảm so với vàng. Khi giá hàng thế giới tăng thì giá vàng ở Việt Nam tất nhiên cũng phải tăng theo.

Trong khi giá đất tăng giảm theo nhịp độ phát triển kinh tế thì giá vàng vẫn là giá chuẩn dù là trong thời kỳ nào cũng vậy. Trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh thì người dân ít quan tâm đến vàng nhưng nếu vào thời loạn lạc, mất an ninh thì người dân có 1 thói quen tích trữ vàng. Và cũng như người nông dân, dù làm gì, lời đến đâu cũng không dám bỏ cây lúa ngay cả khi mà nuôi tôm lời hơn rất nhiều. Việt Nam nói riêng đã từng trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh và loạn lạc, người dân vẫn còn giữ một thói quen ông bà cha mẹ truyền lại là phải trữ vàng. Vàng được coi là thước đo mặc định cho mọi giá trị và vàng không bị đổi mệnh giá.

Có một sự khác biệt, trong khi giá đất tăng là thước đo biểu lộ sự nhiệt tình của công chúng trong làm ăn, thì ngược lại giá vàng tăng lại biểu hiện sự kém tin tưởng của công chúng vào tính bền vững của nền kinh tế. Người dân sẽ chọn nơi an toàn nhất để cất giữ tài sản. Khi không còn chỗ nào tin tưởng hơn người dân sẽ trữ vàng. Khi người dân còn tích trữ nhiều vàng trong nhà chứng tỏ hệ thống ngân hàng cũng như chứng khoán chưa được tin tưởng.

Một nền kinh tế mạnh sẽ có một dự trữ vàng và ngoại tệ lớn tương xứng. Số tiền tích lấy được sẽ được rót vào đất khi làm ăn phát đạt. Cùng với quá trình công nghiệp hoá khi mà một bộ phận lớn cư dân ở nông thôn đổ ra các khu công nghiệp và đô thị kiếm sống, nhu cầu về nhà ở sẽ đẩy giá đất đô thị quanh các khu công nghiệp tăng lên. Khi giá đất còn có thể tăng chứng tỏ nhiệt tình và hy vọng làm ăn của công chúng vẫn còn nguyên đó, nghĩa là kinh tế vẫn còn động lực để phát triển. Người dân vẫn có thói quen tính giá nhà đất theo vàng. Nhưng khi người dân tính giá đất bằng tiền thì có nghĩa là tiền có giá trị bảo đảm ngang với vàng.

Advertisements