QUYỀN BIẾN

Những thủ thuật kinh doanh không khó học, mà cái khó chính là ở chỗ làm việc chung được với những người còn thông minh và giỏi hơn mình

Kiyosaki & Lechter

48. LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

Bill Gates đã rất khôn ngoan khi không cố gắng giành công trạng đối với mọi thành công của Microsoft. Des Dearlove cho rằng việc Gates sẵn lòng thừa nhận tài năng của người khác trong lĩnh vực của mình là điều rất hệ trọng. Theo tạp chí Fortune, “Microsog\ft đã được dẫn dắt bởi một người mà ai cũng đồng ý là có tài năng thiên bẩm và là người có tầm nhìn cao vời để nhận ra tài năng của người khác”.

Bill Gates cũng tán thành với nhận định này khi khẳng định: “Phải nói là những quyết định kinh doanh chuẩn xác nhất của tôi đều liên quan đến việc lựa chọn người. Quyết định tham gia hợp tác kinh doanh với Paul Allen có lẽ đứng đầu trong danh sách các quyết định, và tiếp sau đó là việc tuyển dụng một người bạn Steve Ballmer người mà từ đó trở thành đối tác quan trọng nhất của tôi. Điều quan trọng là phải có ai đó để bạn hoàn toàn tin tưởng, ai đó đồng cam cộng khổ đến tận cùng, ai đó biết chia sẻ quan điểm của bạn, và phải có những kỹ năng khác biệt đôi chút đồng thời là người cũng có thể kiêm luôn vai trò kiểm tra bạn. Khi bạn trình bày cho anh ta một vài ý tưởng của mình, bạn biết chắc chắn anh ta sẽ nói: “Này, chờ chút, anh đã bao giờ nghĩ đến điều như thế này và như thế kia chưa?” Lợi ích của việc khai phóng nguồn tài năng của một người nào đó không chỉ khiến cho công việc hứng thú hơn mà còn thực sự dẫn đến nhiều kết quả tốt đẹp khác”.

Trong những kỹ năng lãnh đạo phải học cho được thì học cách đứng đầu một tổ chức là khó khăn nhất. Và khó khăn nhất trong các việc đó, đó là quản lý nhân sự. Một cách hiểu khác là trong quản lý cũng cần có lãnh đạo và trong lãnh đạo phải có quản lý. Quản lý bảo đảm cho sự tồn tại của doanh nghiệp còn lãnh đạo quyết định sự phát triển của nó.

Đối với công việc lãnh đạo, học nhanh là một thứ quyền lực. Cột tài sản lớn nhất của lãnh đạo là trí óc. Nhân viên dưới quyền cơi như là làm việc tốt khi theo đúng những điều mà họ được đào tạo, lãnh đạo thì khác, phải tự học để biết cách làm tốt cả những thứ bên ngoài sách vở, đó là những thứ không được dạy một cách bài bản trong trường lớp, tính kiên định và nghị lực của người đứng đầu không có trong giáo trình và không có ai dạy cả.

Xu hướng chung của cung cách quản lý hiện đại là tăng cường kiểm soát nhờ đó giảm được tính hà khắc và tăng tính bao dung. Quản lý tốt có nghĩa là không cần dùng các biện pháp trấn áp, chỉ cần ngăn chặn thông qua răn đe là đủ. Và nổi lên trên hết là giảm được hỗn loạn nội bộ, qua đó giữ được trật tự kỷ cương. Trong một hệ thống được quản lý tốt, kiểm soát sẽ trở thành feedback, răn đe trở thành định hướng, thô thiển sẽ đổi thành tế nhị, và tự phát được đổi thành tự giác. Nói một cách khác, tính trấn áp trong mỗi vụ việc được giải quyết càng mạnh càng chứng tỏ quản lý yếu kém và ngược lại.

Muốn được như vậy, phần cốt lõi trong quản lý là đảm, còn phần cốt lõi trong lãnh đạo là sáng tạo. Đặc trưng của quản lý là tính đầy đủ tức là không được quên bất cứ công việc sự vụ nào dù là nhỏ li ti, còn đặc trưng của công việc lãnh đạo là tính đột phá vào những khâu yếu nhất để giải quyết vấn đề nhằm thay đổi cục diện về chất theo hướng có lợi nhất về mặt chiến lược. Làm quản lý được gọi là thủ trưởng, nhưng làm lãnh đạo phải là thủ lĩnh.

Trong quản lý lấy tự động, ổn định và đồng thuận làm cơ sở thì lãnh đạo lai lấy ứng biến làm động lực phát triển. Quản lý lấy kỹ năng làm trọng, lãnh đạo lấy trí tuệ làm trọng.

Quản lý khác biệt lãnh đạo ở chỗ quản lý chú trọng tư duy vi mô. Các quan điểm theo kiểu vi mô là không biết chắc thì không được làm, bởi vì nếu làm không chắc chắn thì sẽ dẫn đến đổ vỡ. Trong khi đó lãnh đạo chú trọng đến tư duy vĩ mô. Các quan điểm vĩ mô là được phép làm tất cả những gì không cấm. Bất cứ việc gì mà lợi ích cá nhân không xung khắc với lợi ích cộng đồng thì đều được hỗ trợ phát triển. Lãnh đạo còn có nghĩa là biết coi trọng tính tối đa tính năng động chủ quan của thuộc cấp.

Quản lý làm việc bằng trái tim, là cảm tính, còn lãnh đạo là bằng khối óc, là lý trí. Trái tim nhiệt tình nhưng đầu óc phải tỉnh táo. Làm việc kiểu trái tim còn có nghĩa là không ngơi nghỉ, không mệt mỏi và không chán. Đầu óc thì khác, được phép ngủ nghỉ và cần phải nhàn rỗi đúng mức, không sa đà vào các việc sự vụ, nhưng quan trọng là phải biết minh mẫn tính trước mọi khả năng có thể xảy ra.

Lãnh đạo giống như ra đề một bài toán và quản lý là giải bài toán ấy. Lãnh đạo còn có thể được hiểu theo nghĩa là : “Đặt vấn đề đúng thì công việc tự nó đã được giải quyết một nửa rồi”. Không có hiệu quả quản lý nào có thể bù đắp sai lầm trong lãnh đạo. Một khi lỡ bị chệch hướng, càng cố gắng đi theo hướng bị chệch đó thì đường về đích càng xa. Covey lưu ý: “Nhưng lãnh đạo là khó khăn là vì chúng ta thường bị cuốn hút vào quản lý”.

Là một người ở cương vị lãnh đạo, bạn cần hiểu rằng sẽ chẳng có một lời tư vấn nào hay hơn trí tuệ của bạn cả. Bạn cần biết tất cả mọi thứ, nói khác đi là mỗi thứ cần phải biết một chút. Kiyosaki & Lechter khẳng định, tư vấn dở chính là rủi ro. Dù bạn có đầu óc rất cởi mở và phóng khoáng, rất lịch thiệp và biết lắng nghe nhiều người nhưng cũng chỉ để tham khảo. Cuối cùng bạn vẫn phải dựa vào trực giác tốt và tài phán đoán giỏi của mình khi ra quyết định. Nếu bạn chẳng biết gì, thì sẽ chẳng có lời tư vấn nào hay hơn cả. Lại nữa, nếu bạn không phân biệt được đâu là lời tư vấn hay, đâu là lòi tư vấn dở bạn sẽ gặp nhiều lắm đấy. Lời khuyên dở chính là rủi ro và hầu như những lời khuyên dở đều xuất phát từ người nhà.

Những người tư vấn cho bạn vốn chẳng khôn ngoan hơn bạn bao nhiêu. Kiyosaki&Lechter khuyên rằng, nếu bạn không đủ khôn ngoan, họ không thể tư vấn cho bạn được nhiều như thế. Nếu bạn có hiểu biết cặn kẽ về tài chính, họ sẽ tư vấn cho bạn những cách phức tạp và tinh vi hơn. Cìn nếu bạn không biết gì nhiều về tài chính, theo luật, họ chỉ tư vấn cho bạn những chiến lược tài chính căn bản an toàn và đảm bảo. Nếu bạn là một tay đầu tư nghiệp dư, họ chỉ có thể khuyên bạn đầu tư ít rủi ro và mức lời thấp. Thường thường họ sẽ đề nghị cách đầu tư “đa dạng hóa” với những người đầu tư không chuyên. Rất ít người cố vấn chịu bỏ thời gian dạy bạn. Thời gian của họ là tiền bạc. Cho nên nếu bạn chịu khó tìm tòi hiểu biết nhiều hơn về tài chính và biết cách quản lý tiền bạn của bạn, sẽ có những chuyên gia tư vấn cho bạn những chiến lược đầu tư mà rất ít người biết đến. Nhưng trước hết, bạn phải tự lo học hỏi lấy. Và hãy luôn nhớ rằng, những người cố vấn chỉ khôn ngoan như bạn mà thôi

49. TẨM MẮT ĐẠI BÀNG CỦA TƯ DUY

TƯƠNG LAI

Mùa xuân năm 1925, trong thư trả lời một học giả yêu nước rằng “cách mạng đã thất bại ở Việt Nam vì sự tàn ác của người Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Vậy anh trông đợi điều gì? Anh nghĩ rằng họ sẽ cho chúng ta tự do muốn làm gì thì làm, để chúng ta làm mọi cách để đuổi họ đi ư? Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng tốt hơn hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng: Tại sao người Pháp lại có thể đến đàn áp chúng ta? Tại sao dân ta lại ngu nguội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công? Bây giờ chúng ta phải làm gì?”

Không dễ gì trả lời những câu “tự hỏi ấy” nếu không có tầm mắt vĩ nhân và bản lĩnh kiên cường của một người “ chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do”. Với tầm mắt bản lĩnh ấy, Người đòi hỏi: “Không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn; điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể”. Chính vì thế một năm sau bức thư nói trên, năm 1926, trong một bài báo viết ở Mat-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi phải “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh quốc tế cộng sản” với lập luận rằng, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước… Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Theo William J.Duiker, tác giả cuốn sách mới nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản ở New York năm 2000, “đây là một nghịch lý táo bạo, nhưng lại là một thực tế tuyệt vời”. Nguyễn Ái Quốc nhận định rằng ở Việt Nam “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống ở phương Tây”, và chỉ ra rằng “quyền lực của quan lại được cân bằng với tính tự trị của xã thôn”. Từ sự phân tích cụ thể của xã hội nước mình, và để cho “chủ nghĩa Mác còn đúng cả ở đó”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng “dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không có được”. Người lập luận: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu, mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Vì thế, theo Người, phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Có nhìn lại địa điểm, thời gian và bầu không khí chính trị trong bối cảnh ấy mới thấy hết được tầm vóc của dòng tư duy táo bạo nói trên và bản lĩnh của người thanh niên yêu nước đang bước đầu tự vũ trang cho mình học thuyết cách mạng của Mác. Với tầm mắt ấy, bản lĩnh ấy, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Hồ Chí Minh. Và cũng với “tầm mắt đại bàng của tư duy” ấy, Bác Hồ đưa ra những tiên đoán mà diễn biến của hiện thực đã chứng minh tính chính xác tuyệt vời của nó khiến người ta cho rằng đó là lời tiên tri! Chỉ xin dẫn ra đây vài ví dụ: ngày 11-9-1946, trả lời Xcôenbrân, phóng viên tờ Thời báo New York, liệu chiến tranh có phải là tất yếu không, Bác Hồ khẳng định: “Đúng. Chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu. Người Pháp đã ký hiệp ước và họ đã trống gióng cờ mở đón tôi, nhưng đó chỉ là giả mạo… Chiến tranh là gian nan và đau buồn nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí hùng mạnh như những khẩu đại bác hiện đại, đó là chủ nghĩa dân tộc… tinh thần con người còn mạnh mẽ hơn máy móc và máy móc không thể có hiệu quả trong đầm lầy và rừng rậm. Hàng triệu mái lều tranh có thể được coi như tơ – roa ngăn chặn quân xâm lược… Đây sẽ cuộc chiến giữa con voi và con cọp. Nếu cọp đứng yêu thì voi dùng ngà đập chết. Nhưng nếu cọp náu vào rừng ban ngày và hiện ra vào ban đêm, nó sẽ chồm lên lưng và xé xác voi, và sau đó biến mất vào rừng rậm. Con voi sẽ bị chảy máu cho đến chết… Đó là cuộc chiến tranh ở Đông Dương”. Cuộc chiến 9 năm chống Pháp đã chứng minh cho lời tiên tri đó.

Song cũng chẳng đợi đến khi bắt đầu cuộc chiến mới với niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng, trước đó năm năm, trong cuốn lịch sử nước ta, ở mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết: “1945 – Việt Nam độc lập”.

Những lời tiên tri cỡ đó khá nhiều, chỉ xin gợi ra hai cột mốc đặc biệt ghi lại dự báo của Bác Hồ đã trở thành hiện thực sau khi Người đã qua đời:

Trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2 – 9 – 1960, Bác nói: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc – Nam sẽ sum họp một nhà”. Trong bản thảo bút tích in trên báo Nhân Dân số ra ngày 30 – 4 – 1960, Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”.

Trong bài thơ chúc tết cuối cùng của Người vào đầu năm 1969 có câu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, và Bác đã lưu ý đồng chí tư lệnh bộ đội phòng không không quân: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua… Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Làm sao kể hết được những điều kỳ diệu từ “tầm mắt đại bàng của tư tuy” Hồ Chí Minh.

50. ỨNG BIẾN

Đầy kinh nghiệm mà thiếu tính sáng tạo đồng nghĩa với bảo thủ và trì trệ.

Ứng biến đặc trưng bởi sáng tạo cộng với linh hoạt. Với nền kinh tế dựa trên tri thức, những biến đổi đang diễn ra hết sức to lớn. Khi mà công nghệ dựa trên nền tảng thông tin và viễn thông đã khởi đầu một tập hợp công nghệ thực sự làm chuyển động một tiến trình quá độ chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh tri thức thì không phải là không có lý khi người ta cho rằng trong cuộc chơi mới, cái người ta cần là một cuộc cách mạng về tư duy. Sự chuyển tiếp của các khái niệm tuy mang tên cũ nhưng các nội dung hoàn toàn mới. Tương lai cũng không còn là sự tiếp nối giản đơn của quá khứ. Thế giới đổi thay của sự sáng tạo đã làm cho kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp nữa với một thế giới phi tuyến.

Không còn một kịch bản vạch sẵn cho con đường phía trước. Và như vậy, cho dù công nghệ thông tin có quan trọng đến đâu đi chăng nữa, cho dù máy tính có thể tính hàng tỷ phép tính trong một giây thì điều khiển nó vẫn là con người. Cho nên, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy và nhất là trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của những người đang sống trong giai đoạn khởi đầu của kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Vào trước những năm 1990, người ta còn có thể định nghĩa kinh tế mới là một nền kinh tế kỹ trị, lấy kỹ thuật hiện đại làm động lực thúc đẩy. Nhưng nay, những năm đầu thế kỷ 21 thì cần bổ sung: đó là một nền kinh tế được phát triển mạnh mẽ trong môi trường sáng tạo và tinh thần tiến thủ. Không dị ứng với cái mới, cái lạ. Bởi vì thiếu cái mới cái lạ thì không có sáng tạo.

Theo định nghĩa, sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi. Để có được sáng tạo, trước tiên phải biết đi chệch khỏi lối mòn cũ.

Điều cần lưu ý là trong sáng tạo không có chuyện thiểu số phải phục tùng đa số.

Sáng tạo về bản chất là một kỹ năng, kỹ năng đi thẳng vào thực chất. Và để có kỹ năng, điều thiết yếu là cần có một quá trình rèn luyện cho kỹ năng ấy. Sáng tạo vì thế mang tính quá trình và đòi hỏi phải được hoàn thiện mỗi ngày. Sự tuyệt diệu của sáng tạo là ở chỗ nếu không nói ra thì chẳng ai biết đấy là cái gì, nhưng một khi đã được công bố thì ai cũng thấy được tính thiết thực và hữu dụng cực kỳ đơn giản của nó. Sáng tạo càng đơn giản và càng dễ phổ biến thì càng hữu dụng. Và cũng chính vì lý do đó sáng tạo càng hữu dụng thì càng cần phải được bảo vệ. Nói một cách khác, cái cơ chế để bảo vệ quyền tác giả của sáng tạo chính là một động lực thúc đẩy sáng tạo. Khi công ty coi trọng và xây dựng cơ chế bảo vệ sáng kiến cho công nhân của mình thì sáng kiến đua nhau nở rộ.

Bởi vì không phải ai cũng có thể biết tự định hướng giống nhau và không phải ai cũng hiểu cách đặt vấn đề một cách đúng đắn và dễ dàng như nhau, và thêm nữa không phải ai cũng có ngay cùng một giải pháp. Sự khác biệt trong sáng tạo là ưu thế cạnh tranh và là yếu tố cạnh tranh quyết định nhất. Nếu bạn có ý muốn bắt chước người ta, muốn chạy theo số đông, theo phong trào, tức là bạn đang làm mất đi tính cạnh tranh của bạn.

Cùng với việc tích lũy được ngày càng nhiều thêm tài sản xã hội, quan niệm giá trị trong xã hội hiện đại đã có nhiều thay đổi cơ bản, trong đó đáng kể nhất là vai trò cực kỳ quan trọng của sáng tạo. Giá trị tài năng vì thế ngày một tăng, giá trị đóng góp của vốn tư bản cũng do đó mà ngày một giảm, trước đây người ta tự hào là làm nơi sở này sở nọ, nhưng ngày nay thì không chỉ vậy. Doanh nhân điển hình ngày nay nếu có thất bại trong sáng tạo thì đó không phải là một điều sỉ nhục, điều đáng sỉ nhục là không biết sáng tạo.

Quy luật về tính đầ đủ của công nghệ cho thấy trong sản xuất cũng như tổ chức, bộ máy phải đầy đủ và đồng bộ. Mặt khác, các bộ phận của một công nghệ hay của một bộ máy tổ chức thường phát triển không đồng đều. Một hệ thống càng phức tạp thì tính không đồng đều càng lớn. Đó chính là nguyên nhân phát sinh các mâu thuẫn bên trong hệ. Vậy, sáng tạo không phải vị sáng tạo mà là vì đổi mới đổi mới để tiến đến một hệ hoàn thiện hơn.

Sáng tạo là giải quyết bài toán khắc phục các mâu thuẫn đó, tìm ra khâu yếu nhất của hệ thống, thay đổi nó một chút theo hướng hoàn thiện hơn, như vậy sẽ làm tăng tính hiệu quả của cả hệ và sự cải thiện chất lượng của cả hệ chính là sự tiến bộ của khâu yếu nhất của hệ.

Nếu cải tiến một khâu không phải là khâu yếu nhất của hệ thì cải tiến đó chưa thay đổi được hệ theo hướng hoản thiện hơn bởi vì chất lượng của cả hệ vẫn bị yếu kém bởi khâu yếu nhất của hệ. Thế mà, trăm hay không bằng tay quen. Người ta vẫn thích làm những cái quen thuộc và không thích lắm cái xa lạ. Cho nên nếu cứ làm trong lĩnh vực vốn là thế mạnh của mình mà không nhìn xung quanh xem thực chất nhu cầu xã hội là gì thì dù vẫn có cố gắng vẫn chỉ là sáng tạo ra cái cũ mà thôi, không phải là sáng tạo cái mới. Thống kê người Mỹ trung bình đổi nghề 3 lần. Không phải người ta thích thay đổi. Đơn giản chỉ là môi trường lao động đã tự nó biến đổi làm cho mọi người buộc phải thích nghi theo. Thường khi do phải thay đổi để thích nghi mà cái mới đã xuất hiện.

Khủng hoảng thực chất là sự trống vắng sáng tạo. Nói cách khác đó là sự mất cân bằng, sự không tương xứng giữa tri thức với sự thành đạt hiện có.

Khi mà chỉ biết sáng tạo trong lĩnh vực quen thuộc thì sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến khủng hoảng.

Khi mà không biết cách để làm ra một cái gì đó mới và hữu ích hơn nên cứ phải sao chép cái cũ. Biểu hiện của khủng hoảng là sự thừa mứa trong thiếu thốn hoặc ngược lại tức là sự thiếu thốn trong thừa mứa. Cái cần thì không có mà cái có lại không cần. Khủng hoảng khi đó có thể được hiểu giống như khi làm ra hai chiếc giầy giống nhau cho cùng một chân. Dù cho chất lượng của những chiếc giày ấy có tốt đến mấy thì vẫn không cải thiện được tình thế. Chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng thừa giày nhưng lại thiếu giày để đi. Vấn đề là phải làm chiếc giày khác ngược với chiếc giày mà ta đang có. Đó chính là tạo ra lĩnh vực mới trong hoạt động. Tức là sáng tạo ra những cái biến đổi về chất so với hiện tại trên cơ sở kế thừa hiện tại. Tạo ra “chiếc giày thứ hai hợp với chiếc giày đang có sẵn thành một đôi”. Chỉ trong tình hình đó mới thoát khỏi khủng hoảng.

Hiện nay khi mà xã hội phương Tây đã phát triển cao đến mức dường như bị lâm vào tình huống khủng hoảng về sáng kiến đầu tư, tiền thì nhiều, lãi suất liên tục giảm, đầu tư vào đâu cũng không thấy lời thì quyền sở hữu vốn tư bản khi đó không còn là động lực phát triển kinh tế nữa. Chính khi đó, quyền sở hữu trí tuệ mới quyết định động lực phát triển kinh tế. Cái cơ chế để bạn có thể sở hữu, mua, bán, chuyển nhượng sáng kiến chính là động lực chính của một nền kinh tế đặc biệt mà toàn thế giới đang tiến đến, đó là kinh tế tri thức. Nhưng các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chưa tiến tới giai đoạn đó. Khi còn cảm thấy thiếu vốn thì bạn đang còn may mắn bỏi vì bãn còn nhiều cái để làm và chưa sa vào tình trạng cạn kiệt sáng kiến đầu tư.

Osborn, tác giả phương pháp não công, một trong những phương pháp tích cực hóa tư duy, nhận xét thấy: có những người giàu tri tưởng tượng, có nhiều khả năng phát những ý tưởng khác hơn người khác nhưng lại yếu về mặt phân tích, phê phán. Ngược lại, có những người giỏi phân tích, phê bình các ý tưởng có sẵn hơn là tự mình đề ra những ý tưởng mới. Nếu để hai loại người này làm việc chung với nhau thì họ thường ngáng chân nhau. Osborn đề nghị tách thành hai quá trình riêng rẽ: phát ý tưởng và đánh giá ý tưởng do hai nhóm người khác nhau thực hiện.

Nhóm đề xuất ý tưởng nên lưu ý: 1. cần người thuộc những chuyên ngành khác nhau 2. không cần chứng minh ngay tính đúng đắn 3. trong quá trình đề xuất ý tưởng không được chỉ trích kể cả nhún vai, bĩu môi, cười nhạo… 4. cần tôn trọng những ý tưởng xa lạ kể cả những ý tưởng dường như không nghiêm túc.

Ứng biến là một cách sáng tạo rất đặc biệt. Nhờ ứng biến mà có thể “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”. Biết ứng biến tức là hiểu được thế nào là dùng cái có sẵn; biết, hiểu và làm được chuyện nghịch đảo; ứng biến còn là biết dùng trung gian và biết cách tư duy theo kiểu hoán vị mẫu.

51. DÙNG CÁI CÓ SẴN

Một sản phẩm gọi là sáng tạo thực ra chỉ có dưới 1% là hoàn toàn mới. Thường thì 99% là kinh điển, là những thứ có thể học hỏi hoặc mua mà có được. Dùng cái có sẵn là đã có 99%.

Đừng cho 1% sáng tạo là nhỏ, giữa người và khỉ sự khác biệt về gien chỉ có 1%. Các nghiên cứu công nghệ gien còn cho thấy 0,5% đó là kết quả của một triệu năm tiến hóa của bộ gien người. Để có được 1% khác biệt giúp vượn tiến hóa thành người cần có 2-3 triện năm.

Nada Inada nhận xét: “Nền văn hóa chúng tôi là do sự bắt chước. Trẻ con bắt chước bố mẹ, cháu bắt chước ông bà. Cứ tiếp tục trải qua ba thế hệ như thế, rồi một nền văn hóa được định hình. Với cách này, nước Nhật đã thành công. Thành công đến mức nó đánh bại ngay cả ông thầy của mình”.

Nhà sản xuất khi thiết kế một loại máy mới nên dựa vào các loại phụ tùng có sẵn trên thị trường. Cái cần làm là gia tăng giá trị cho thiết bị bằng những cái mình chế tạo thêm. Có những chi tiết rất nhỏ nhưng lại quan trọng để làm nên dấu ấn tự khẳng định của nhà sản xuất. Một cụm chi tiết, một loại hóa chất, một thiết bị đồng bộ nào đó, nếu có thể đặt mua ở đâu đó trong thị trường thì không nên tự chế lấy. Công ty Honda sản xuất ô tô ở Mỹ bằng cách tự chế tạo 20% chi tiết, đó là các chi tiết chính, còn 80% là đặt hàng cho các công ty khác làm. Việc sản xuất ô tô của các công ty nước ngoài ở Trung Quốc cũng tương tự, những phụ tùng nào có thể chế tạo được ở trong nước thì không cần phải nhập vào để giảm chi phí sản xuất xe.

Chi phí mua các bản quyền sản xuất hiệu quả hơn tự đầu tư nghiên cứu. Altshuler lưu ý rằng 95% các patent được công nhận là mới bao gồm những kiến thức sẵn có trong các ngành công nghiệp khác.

Tuy nhiên, dùng cái có sẵn không có nghĩa là tự giới hạn mình trong những cái có ở quanh mình. Trong thời đại toàn cầu hóa mọi thành tựu khoa học kỹ thuât cũng như khoa học quản lý một khi đã có sẵn ở đâu đó trên thế giới thì doanh nghiệp phải tìm cách tiếp cận và sử dụng sao cho có lợi nhất. Một khi sử dụng được các công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, doanh nghiệp không thể nào bị thua trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa hiện nay.

Ngay cả DOS, hệ điều hành đem lại tiếng tăm cho Microsoft, cũng không phải do Gates và Allen tạo ra đầu tiên. Allen mua một phiên bản hệ điều hành có tên là Q-DOS từ một công ty máy tính Seattle Computers với giá 50.000 USD. Mlicrosoft đã phát triển nó và giao cho IBM để dùng trong máy PC đầu tiên của họ. Và cho dù Mike Zisman của công ty Lotus, một đối thủ kỳ cựu của Microsoft, nhận xét: “Tôi không sợ Microsoft, công ty này chẳng bao giờ phát minh được gì cả”.Kết quả là Gates và Allen vẫn thu được hàng tỷ đô la từ phần mềm vốn không phải là của mình.

Đừng lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc để mà sáng tạo ra những gì đang có sẵn và còn hữu dụng.

Dùng cái có sẵn chính là một cách đi tắt. Đứng trước một vấn đề mới thì mọi trình độ trở nên ngang bằng. Với việc mua bí quyết công nghệ sản xuất tranzitor bán dẫn, từ những năm 50 công ty Sony đã đặt mình ngang hàng với các công ty Âu Mỹ đang hoạt động trong cùng lĩnh vực.

Ngạn ngữ phương Tây nhắn nhủ là : “Xin đừng phát minh ra cái bánh xe một lần nữa”.

52. NGHỊCH ĐẢO

Nếu không làm được thì hãy thử điều ngược lại. Khi đã hiểu được nghịch lý thì nghịch lý không còn là nghịch lý nữa.

“Thất bại là mẹ thành công”. Nhưng người Nhật lại nói: “Thành công chính là khởi đầu của thất bại” để nhắc nhở ai đó đang ngủ quên trên chiến thắng. Chính cái lúc các mặt hàng của bạn đang được hâm mộ nhất cũng chính là lúc dễ mất uy tín nhất và cần lưu ý giữ gìn nhất. Một cách diễn đạt khác, lúc thành công nhất chính là lúc mà nguy cơ thất bại nhiều nhất.

“Trong phúc có họa, trong họa có phúc”. Việc tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn ưu đãi thường khó hơn và thậm chí không kinh tế bằng các nguồn vốn thường. Đi mua vẫn hay hơn đi xin.

Những người biết chấp nhận rủi ro là những người làm thay đổi thế giới. Kiyosaki & Lechter cho rằng, hiếm thấy có ai giàu mà không dám chấp nhận rủi ro.

Trong khi xuất khẩu được khuyến khích và ưu đãi, thì giá gạo bán tại TPHCM và Hà Nội vẫn cao gấp hai đến ba lần giá xuất khẩu. Sản lượng gạo tiêu dùng nội địa cao gấp 7-8 lần lượng gạo xuất khẩu.

Nếu coi xuất khẩu là an ninh lương thực, là nguồn dự trữ bán không cần lãi, chỉ cần để đổi ngoại tệ nhập vật tư phục vụ nông nghiệp thì xuất khẩu gạo sẽ khác đi nhiều. Đó là chưa kể đến khó khăn do các nước công nghiệp phát triển trợ giá nông sản, trong khi nông dân Việt vẫn vừa phải chịu thuế nông nghiệp và lại còn bị nước ngoài kiện bán phá giá khi xuất khẩu nhiều nữa.

Những vùng đất nghèo ven biển do không trồng được lúa trở nên giàu có nhờ con tôm do thu nhập 1 ha nuôi tôm cao gấp 13 lần trồng lúa. Tuy nhiên, những hộ nuôi tôm bền vững lại là những hộ vừa nuôi tôm vừa trồng lúa chứ không chỉ nuôi tôm. Giữ cân đối một tỉ lệ rừng hoặc lúa luân canh tương xứng với diện tích nuôi tôm, là phương pháp quản lý dịch hại giúp cho tôm nuôi ít bệnh, không cần sử dụng kháng sinh thì hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn.

Chúng ta thường than oán mỗi khi rơi vào nghịch cảnh. Thực ra khủng hoảng, trì trệ là giai đoạn tốt để nghiền ngẫm về những cách làm mới hay nguyên lý mới cho sự phát triển bền vững. Cái lúc nguy cơ thách thức là cao nhất cũng chính là lúc cơ hội cho sự phát triển là lớn nhất nếu vượt qua được. “Cùng tất biến, biến tất thông”. Khủng hoảng dầu mỏ những năm 70 đã buộc Nhật Bản phát triển một thế hệ công nghệ tiết kiệm, nhờ đó khi khủng hoảng qua đi sức cạnh tranh của đất nước mặt trời mọc này càng được khẳng định nhờ những thiết bị nổi tiếng là tiết kiệm năng lượng.

Khi mở một con ốc, nếu mở mãi không ra thì hãy thử vặn ngược lại, biết đâu đấy chẳng phải là ốc ren trái. Cũng giống như khi bạn đã làm việc đến khuya vẫn không nghĩ ra cách giải quyết công việc, vậy thì đi ngủ. “Nhất dạ bá kiến”. Sáng mai mọi chuyện rồi đều sẽ tốt đẹp. Không một tách cà phê nào giúp bạn tỉnh táo hơn là đi ngủ đủ giấc.

Châm ngôn Nhật Bản có câu: “Nếu không thể chiến thắng kẻ thù thì hãy ôm hôn nó”.

51. DÙNG TRUNG GIAN

Nhiều người trong chúng ta thích mua tận gốc bán tận ngọn, thích trực tiếp. Thích là vậy, nhưng trong sản xuất lớn thông qua các đại lý hay thương lái làm trung gian bao giờ cũng hiệu quả hơn. Ngay trong cuộc sống hàng ngày, có mấy ai trong chúng ta đến tận nhà máy để mua sản phẩm? Đến cửa hàng mua dễ hơn nhiều, thứ gì cũng sẵn.

Khi xuất hàng, nếu doanh nghiệp biết sử dụng những người khai thuế hải quan thì sẽ tránh được rất nhiều phiền hà do không nắm được thủ tục hải quan vốn rất nguyên tắc của Mỹ cũng như của nhiều nước Châu Âu.

Tiền là hệ thống giá trị thứ hai, là trung gian trong giao dịch. Trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng chỉ có vào thời nguyên thủy. Ngân hàng là trung gian. Thương mại là trung gian. Dịch vụ là trung gian. Ở cách nước công nghiệp hiện có đến 75% tổng sản phẩm xã hội GDP là do dịch vụ mang lại. Tỷ trọng của dịch vụ còn tăng lên nữa và có thể đạt đến 90% GDP trong nền kinh tế tri thức. Cho nên cũng có thể nói: lịch sử là lịch sử phát triển của các hình thức và định chế trung gian.

Với cơ thể, máu là trung gian mang oxy và dưỡng chất đến từng tế bào. Trong cơ thể phức tạp như cơ thể người, hầu hết các bộ phận quan trọng của cơ thể như tim, gan, lá lách… đều là trung gian và đều là cần thiết cho cơ thể. Chỉ có vi khuẩn vì có cấu trúc nhỏ bé đơn giản, khác với sự phức tạp của cơ thể người, mới hấp thu trực tiếp mọi thứ dinh dưỡng từ môi trường xung quanh.

Đối với doanh nghiệp hiệu quả nhất là xây dựng và làm việc thông qua hệ thống trung gian là đại lý hay thương lái thu mua gom hàng. Thương lái hiện nay đang tiêu thụ hơn 95% lúa của nông dân và bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Thương lái làm được điều này vì họ tạo được lòng tin với nông dân. Họ nói sao làm vậy và tôn trọng quyền lợi của các bên. Họ xuống tận nhà từng nông dân và sẵn sàng linh động chia sớt hợp lý với nông dân những rủi ro mà nhà nông gặp phải. Thương lái có thể làm được những điều mà doanh nghiệp xuất khẩu gạo không làm được. Ký hợp đồng và đầu tư trực tiếp với nông dân rủi ro nhiều hơn so với khi làm việc với nông dân thông qua hệ thống thương lái.

54.HOÁN VỊ MẪU

Khi đặt mình vào vi trí đối tác để suy xét thì đó là hoán vị mẫu. Nhưng việc này là rất khó khăn. Bởi vì dù muốn hay không mỗi chúng ta vẫn luôn suy nghĩ khách quan theo kiểu chủ quan của mình tùy thuộc vào trình độ nhận thức.

Để hoán vị mẫu, Covey dùng hình tượng một viên đô đốc cáu kỉnh ra lệnh cho một binh nhì phải tránh đường cho hạm đội của ông ta. Nhưng khi biết binh nhì đó không phải là một con tàu nhỏ mà là ngọn hải đăng thì ông ta hết cáu kỉnh và lập tức ra lệnh cho hạm đội đổi hướng.

Trong khi giải các bài toán sáng chế có những tình huống dùng hai cách ngược nhau đều đúng. Giống như hai người bạn cùng nhau đi trên một con đường và gặp một gốc cây. Một người muốn tránh về bên phải, một người muốn tránh về bên trái, hai quyết định ấy có thể là ngược nhau về mặt logic hình thức nhưng đều đúng. Cho nên, nếu thấy đối tác xử lý tình huống ngược ý mình thì chưa chắc họ sai.

Khi xây công viên xong, nhà thiết hế không cho làm đường ngay. Phải đợi xem người ta đi trong công viên theo lối mòn nào rồi dựa vào đó làm đường theo kiểu thích thì chiều.

55. SÁNG TẠO LUẬN

TRIZ là lý thuyết giải các bài toán sáng chế, được phiên âm viết tắt theo nguyên bản tiếng Nga. Đây là hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể giúp cho những người sử dụng nâng cao năng suất và hiệu quả, về lâu dài, tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo. TRIZ được xây dựng dựa trên kiến thức tổng hợp của các ngành khoa học kỹ thuật, dạy và học được như các môn truyền thống trong trường học, bao gồm 40 nguyên tắc ( hay là thủ thuật ) cơ bản, 76 chuẩn, 11 phép hoán vị mẫu để khắc phục mâu thuẫn và đặc biệt là thuật toán ARIZ.

Tác giả phương pháp luận sáng tạo là G.S. Altshuller viện sĩ, kỹ sư, nhà sáng chế Liên Xô gốc Do Thái, chủ tịch hội TRIZ toàn Liên bang Xô Viết. Hiện nay TRIZ đã phát triển trên toàn thế giới.

Biết đến TRIZ từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, người Mỹ nhanh chóng nhận thấy đây là “Công nghệ mới mang tính cách mạng được đưa vào Mỹ và tin rằng điều này sẽ làm tăng vị thế cạnh tranh của nước Mỹ trong nền kinh tế đang xuất hiện mang tính toàn cầu dựa trên tri thức”.

Mặc dù TRIZ có nguồn gốc từ Liên bang Xô Viết và trên thế giới có nhiều viện nghiên cứu trong lĩnh vực này nhưng viện nghiên cứu duy nhất mang tên Altshuller lại nằm ở Mỹ. Viện ở tại Woodland Hills, California, nằm cách Los Angeles khoảng một giờ xe chạy về hướng Tây Bắc.

56. CÔNG NGHỆ

Để làm việc cần có kiến thức tối thiểu nhất định. Đó là những cái tối thiểu nhất của một ngành chuyên môn mà bạn quan tâm hay cho công việc bạn đang làm. Mỗi một chuyên ngành có hệ thống kiến thức của nó và không thể làm việc nếu không nắm chuyên ngành ấy một cách hệ thống. Đó chính là công nghệ.

Công nghệ có thể được hiểu như tổng hòa của khoa học, kỹ thuật và sản xuất. Công nghệ là tập hợp những thiết bị và những kỹ năng cần thiết đủ đế chế tạo một sản phẩm hay một hệ sản phẩm. Công nghệ có thể gồm rất nhiều ngành khoa học, kỹ thuật và các loại vật liệu khác nhau và điểm giống nhau duy nhất giữa các ngành khoa học, kỹ thuật ấy là cùng nhau hiện diện trên một sản phẩm hoàn chỉnh đến tận tay người tiêu dùng.

56.1 Quy luật phát triển công nghệ

Tính đầy đủ

Một bộ máy hoạt động tự lập phải bao gồm động cơ, bộ phận truyền động, bộ phận công tác và bộ phận điều khiển. Trong đó mỗi bộ phận phải có khả năng làm việc tối thiểu và ít nhất phải có một bộ phận điều khiển được.

Tính dẫn năng

Bất kỳ bộ máy nào cũng là hệ tiêu thụ và biến đổi dạng năng lượng nào đó. Để tăng tính điều khiển của cả hệ còn cần phải bảo đảm sự thông suốt năng lượng mang thông tin giữa bộ phận điều khiển và các bộ phận khác của hệ.

Tính tương hợp

Mức tương hợp càng cao thì máy chạy càng hoàn chỉnh. Sự hoàn thiện bất kỳ hệ kỹ thuật nào, ở mức độ này hay mức độ khác đều liên quan đến việc nâng cao tính tương hợp giữa các phần của hệ và sau đó là với môi trường bên ngoài.

Tính lý tưởng

Tinh lý tưởng của hệ kỹ thuật tăng lên theo hướng: 1) kích thước nhỏ gọn. 2) đơn giản. 3)dễ chế tạo. 4) ít hao năng lượng. 5) ít hỏng hóc. 6) tự vận hành. 7) đa năng. 8) không ảnh hưởng tới sức khỏe và môi trường. 9) giá ngày càng rẻ.

Mọi sáng chế không có tác dụng đưa hệ kỹ thuật về hướng lý tưởng sẽ nhanh chóng bị đào thải thậm chí không được ứng dụng.

Tính không đồng đều

Đây là quy luật về tính không đồng đều trong sự phát triển các phần của hệ kỹ thuật. Hệ có quy mô càng lớn, tính chất càng phức tạp thì tính không đồng đều càng lớn.

56.2 Phát minh khoa học

Phát minh là công việc phát hiện mới một quy luật tự nhiên. Những quy luật tự nhiên luôn hiện diện một cách khách quan không lệ thuộc vào sự hiểu biết của con người về những quy luật ấy. Con người chỉ có thể phát hiện quy luật chứ không thể tạo ra quy luật kể cả quy luật xã hội.

Ngày nay phát minh được thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học cơ bản trong các viện nghiên cứu quốc gia.

Phát minh là tìm ra cơ chế hoạt động. Các phát minh thường được công bố công khai trên các tạp chí khoa học chuyên ngành. Bản thân phát minh không làm ra tiền bạc của cải. Tuy sáng chế mới tạo ra của cải vật chất, nhưng để sáng chế phải nắm quy luật, muốn nắm quy luật phải phát minh.

Không có chuyện phát minh 2 lần cùng một quy luật, bởi vì việc phát hiện lặp lại là thừa hoặc không được công nhận.

56.3 Sáng chế kỹ thuật

Sáng chế là làm ra những thứ mà trong tự nhiên vốn không có, nhưng do nhu cầu của chính mình mà con người đã tạo ra. Sáng chế là công việc vĩ đại nhất của loài người chúng ta làm đổi thay cả thế giới. Những sáng chế đầu tiên là công cụ lao động, công cụ tạo lửa và giữ lửa.

Khác với nghiên cứu cơ bản, các nghiên cứu triển khai ứng dụng thường được hiểu như các bằng sáng chế. Đặc trưng của sáng chế là kỹ năng chế tạo. Phát biểu cách nào cũng được, sáng chế là công việc của những kỹ sư có bàn tay thợ hay là các công việc của những người thợ có cái đầu kỹ sư.

Cơ sở để phát triển được công tác nghiên cứu sáng chế tại các công ty, tăng phần giá trị gia tăng cho các sản phẩm, là công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải được coi trọng đúng mức. Sáng chế trên căn bản là loại công việc được thực hiện tại các công ty, được giữ bí mật, được đang ký để bảo vệ bản quyền và muốn có được phải mua.

Ngày nay công việc sáng chế vẫn ngày ngày tiếp diễn. Sáng chế còn là chế tạo ra cái mà trước đó chưa ai chế tạo được hoặc chưa chế tạo với những tính năng tốt và rẻ như vậy.

Sáng chế ngày nay là việc vận dụng những kiến thức có sẵn để tạo ra một cái mới. Nếu kiến thức càng nhiều, sự hiểu biết về bản chất của công việc càng thấu đáo thì xác xuất thành công trong sáng tạo càng lớn. Sáng chế được coi là thành công khi được thị trường chấp nhận.

Không thể sáng tạo được gì, ví dụ như là cho ra đời một kiểu xe mới, nếu chưa đủ tri thức về công nghệ để chế tạo một chiếc xe như của người ta đã chế tạo. Cho nên muốn sáng chế thì trước tiên phải học.

Để có được một sáng chế mang tính thời đại thì công sức bỏ ra để học hỏi là rất lờn và nếu so sánh với việc sáng chế thì tỉ lệ sẽ là 99% công sức cho học tập và 1% công sức suy nghĩ cho sáng chế.

Học tập là để nắm nguyên lý, là hiểu khái quát công việc ở mức độ nhất định. Khó có khi nào gặp việc trùng hợp hoàn toàn trong từng trường hợp. Vì thế, khi ứng dụng thực tiễn cần có tư duy để triển khai việc ở chỗ này thích hợp cho cả các trường hợp cụ thể tương tự ở chỗ khác. Đó chính là sáng tạo.

Không ở đâu không cần đến sáng tạo. Dù cho giàu kinh nghiệm đến đâu chăng nữa mà thiếu sáng tạo, thiếu biến hóa trong hoạt động thực tiễn thì đó vẫn là sự bảo thủ giấu sau cái vỏ của sự hiểu biết.

56.4 Năng lực công nghệ

Đặc trưng của công nghệ là tính đầy đủ. Trong khoa học có thể có các kết quả âm tính vì kết quả âm tính cũng là kết quả. Nhưng công nghệ thì khác, công nghệ chỉ chấp nhận các kỹ thuật chắc chắn. Công nghệ không chấp nhận kết quả âm tính. Đã làm thì phải được. Không làm được thì tốt nhất là không làm để không tổn hao công sức, của cải, tiền bạc.

Chỉ cần thiếu một kỹ thuật, đấy có thể chỉ là một kỹ thuật xưa cũ thì cũng có nghĩa là không có sản phẩm hoàn chỉnh, cho dù các kỹ thuật khác có thể mang tính kỹ thuật rất cao. Do đó khi xây dựng một dây chuyền công nghệ mới, bên cạnh những bằng sáng chế phải mua thuộc loại hi-tech, còn có những bí quyết công nghệ thuộc loại kinh điển có thể học được thông qua cử cán bộ công nhân viên đi thực tập, thì lại thường bị bỏ qua do không ý thức được tầm quan trọng, dẫn đến việc sản xuất không hiệu quả nhất là trong những năm đầu.

Hình vẽ

Công nghệ là có nghề. Nghề vốn hiện hữu trong các làng nghề hay phường kẻ chợ. Công nghệ không có trong các trường học kể cả các đại học công nghệ. Được khởi xướng và nuôi dưỡng bởi doanh nghiệp với mục tiêu mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, ngày nay công nghệ chỉ tồn tại ở doanh nghiệp. Do công nghệ sản xuất gồm nhiều kỹ thuật thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau, chỉ cần có một thay đổi nhất định ở một khâu kỹ thuật nào đó, ít nhiều cải tiến chất lượng hay giá thành sản phẩm thì đồng thời làm cải tiến công nghệ.

Trong sản xuất công nghiệp nghề là công nghệ,

Khi những thay đổi – ở dạng cải tiến hay sáng chế được tích lũy ở số lượng nhất định sẽ dẫn đến thay đổi công nghệ về chất, giúp doanh nghiệp vượt qua đối thủ cạnh tranh.

Những sáng kiến đơn lẻ dù mang tính khoa học hay kỹ thuật cao nhưng nếu không phải là một mắt xích của công nghệ sẽ không được ứng dụng trong sản xuất. Một phát minh hay sáng chế phải đợi những phát minh hay sáng chế khác cho đồng bộ mới có thể ứng dụng trong sản xuất. Các nghiên cứu khoa học kiểu cũ thường hay phát minh tách biệt khỏi công nghệ. Các nghiên cứu khoa học hiện đại không bao giờ phát minh hay sáng chế mà lại tách khỏi mục tiêu chế tạo hàng loạt.

Việt Nam là một nước công nghệ kém phát triển cho nên các nhà khoa học không có đủ điều kiện để ứng dụng các phát minh, sáng chế như những đồng nghiệp phương Tây. Một mặt là, khi làm công tác nghiên cứu khoa học các nhà nghiên cứu hay lấy mặt bằng công nghệ phương Tây làm chuẩn cho nên các phát minh hay sáng chế của họ thường có tính ứng dụng tốt được ngay cho công nghệ tiên tiến Âu Mỹ nhưng khi đưa vào thực tiễn Việt Nam thì lại dễ bị tầm thường hóa, và các nhà khoa học thường hay bỏ qua vì những định kiến rằng đấy không phải là khoa học.

Quy luật giá trị chi tiết phát biểu rằng để hoàn tất 90% sản phẩm sẽ tốn 50% lao động, còn 10% chi tiết công việc còn lại cũng sẽ lấy đi 50% lao động để hoàn tất. Phân biệt một nhà quản trị công nghệ giỏi hay kém chính là trong 10% và nhất là trong 1% chi tiết phải hoàn tất sau cùng ấy.

57. NGHIÊN CỨU R&D

Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, các nghiên cứu triển khai R&D đóng vai trò ngày càng quan trọng. Nghiên cứu triển khai không nhất thiết phải là đưa ra những sáng kiến. Trong nhiều trường hợp, nhiều công sức đã được tập trung vào việc nghiên cứu xem các khách hàng muốn sử dụng các ứng dụng như thế nào và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của họ để dễ bán. Trong nghiên cứu triển khai không nên quá coi trọng việc phát hiện những điều mới mẻ.

Công nghệ bao giờ cũng phải đồng bộ. Nghiên cứu R&D là những nghiên cứu với mục tiêu hoàn tất công nghệ. Nghiên cứu R&D cho phép ráp nối những tiến bộ mới nhất của khoa học kỹ thuật cho phù hợp một cách đồng bộ với năng lực công nghệ hiện tại. Thiếu các nghiên cứu R&D, những tiến bộ mới nhất trong mọi lĩnh vực sẽ không đến được với sản xuất.

Bill Gates là một đại diện cho các tổng giám đốc hiểu rất rõ tầm quan trọng và đầu tư nhiều cho nghiên cứu R&D. Ông đã dùng một phần rất lớn trong doanh thu của Microsoft để chi cho nghiên cứu và phát triển. Vào năm 1984, Tạp chí Forbes chuyên tổng hợp danh sách những nhân vật giàu nhất thế giới hàng năm cũng bị nhầm lẫn khi nhận xét rằng tên của Gates sẽ không bao giờ xuất hiện trong danh sách những người giàu nhất nước Mỹ vì ông đổ quá nhiều tiền cho nghiên cứu R&D.

Thực tế chứng minh ngược lại. Gates khẳng định rằng ngân sách dành cho nghiên cứu mà nhiều người cho rằng mất cân đối chính là nguyên nhân dẫn đến thành công của Microsoft. Khi đổ các khoản tiền khổng lồ trích ra từ doanh thu của công ty vào công việc nghiên cứu triển khai, Gates đã đảm bảo cho Microsoft luôn tìm thấy những cơ hội trong sự kiện trọng đại sắp xảy ra. Trong khi các công ty máy tính khác ngủ quên trên chiến thắng thì phòng thí nghiệm của Microsoft vẫn miệt mài phát triển sản phẩm cho 5 năm kế tiếp.

R&D là quá trình chuyển hóa khoa học kỹ thuật thành công nghệ.

Ngày nay ở Đà Lạt không có ai không biết đến khoai cấy mô. Nhưng lúc đó vào những năm 1976- 1980 một thế hệ cán bộ khoa học trẻ thuộc phòng sinh học thực nghiệm, Phân viện Khoa học Việt Nam, số 1 Mạc Đĩnh Chi, tại TPHCM đã được Gs. Nguyễn Văn Uyển, lúc đó là trưởng phòng thí nghiệm, mạnh dạn giao nhiệm vụ nghiên cứu triển khai kỹ thuật cấy mô ở Đà Lạt, thì cấy mô đang là một khoa học. Để làm chủ nó là kỹ thuật in vitro cao cấp phòng thí nghiệm. Nhìn nhữn cây khoai tây cấy mô mảnh te bằng nửa cây tăm, phải nói là có lòng tin vào sức mạnh của khoa học kỹ thuật và vào cả chính mình nhiều lắm mới dám làm. Cuối cùng thực tế đã chứng tỏ, năng suất từ khoai cấy mô cao gần gấp đôi khoai giữ giống bằng củ theo cách truyển thống.

Giá cả là yếu tố then chốt với sản xuất. Nếu đem cân lên thì giá 1 kg khoai tây giống cấy mô là 1 triệu đồng. Cây khoai tây cấy mô nhờ rất mảnh dẻ lớn nhanh nên có giá là 500-1000 đ/cây tùy theo kích thước. Giá vài cây cấy mô gần bằng 1kg khoai thương phẩm. Một giải pháp ra đời: Mạ khoai tây. Cây được trồng với mật độ siêu dày: 2000 cây/m2. Sau hai tuần thì cắt ngọn cắm tiếp. Nhờ giải pháp mạ khoai tây nên đã giảm giá 10-20 lần. Giá 1 ngọn mạ khoai tây giảm xuống còn 30-50 đồng. Một cây mạ khoai tây sau khi cặm vào bầu mini to bằng đốt tay cái, cho ra rễ sau hai tuần có giá 100-150 đ/bầu tùy nhà vườn, rẻ bằng một nửa giá khoai giống bằng củ.

Thế là giải pháp để đưa cây cấy mô đến được với sản xuất lại là khâu vườn ươm. Và cũng nhờ thế, thực tế triển khai cho thấy cái mà khoa học đem tới là một thì cái phải học cho được từ người nông dân là mười. Ông Vinh, nhà vười phong lan nổi tiếng ở Đà Lạt lúc đ1o, đã đưa ra nguyên lý: “Ướt lá, khô rễ”. Cây cấy mô muốn trồng sống cần phải giữ cho lá ướt, vửa để cây không héo, nhưng đất phải tơi xốp thoáng khí thì rễ mới phát triển. Những máy phun sương rất hiện đại và đắt tiền lúc đó đã được đem sử dụng nhưng không có kết quả. Cuối cùng sáng kiến che màng nylon trong suốt để giữ ẩm kết hợp chiếu cói khi trời nắng và giở ra khi trời mát tỏ ra là hiệu quả nhất. Bằng cách như thế việc nhân giống khoai tây trở nên hiện thực.

Nhưng mạ khoai tây không thể nhân trên luống được mãi, sau một khoảng thời gian nhất định phải bỏ. Đó là do sự tích lũy dịch hại khoai tây mà chủ yếu là Pseudomonads, đó là vi khuẩn sống trong bó mạch dẫn gây ra bệnh héo tươi hay còn gọi là héo xanh, làm cho cây đang sống tươi tốt tự nhiên héo rũ xuống rồi chết. Chính cấy mô đã giúp kiểm soát, loại trừ được vi khuẩn héo tươi cũng như virus các loại, không bị nhiễm trong giống. Cấy mô khoai được sinh ra trong phòng thí nghiệm và phát triển trong dân thành một nghề. Nhờ nghề cấy mô, cây khoai tây đã phát triển bền bỉ tại Đà Lạt. Nhiều người trong số nhân viên phòng thí nghiệm ngày ấy nay đã trở thành chủ doanh nghiệp chuyên doanh cây giống cấy mô có quy mô 60-70 công nhân.

Một phát hiện nữa, trong luống mạ khoai tây hình thành những củ chỉ nhỏ như viên bi cỡ 2-3 gr. Khi trồng những viên khoai tây bi này thì cây khoai mọc bình thường và cho năng suất. Củ giống ở dạng khoai tây bi đã tạo ra một khả năng mới cho việc cung cấp khoai tây giống gốc cấy mô sạch bệnh cho vùng đồng bằng sông Hồng. Trước đây khoai tây cấy mô chỉ phát triển ở Đà Lạt do chỉ có ở đây mới sản xuất được mạ khoai tây.

Hóa ra khâu quyết định đủ để đưa khoai tây cấy mô đến với sản xuất lại là khâu vườn ươm, một khâu nằm trong giáo trình cấy mô, và nếu có báo cáo khoa học thì những chi tiết quan trọng nhất của bí quyết công nghệ, còn gọi là know-how, giúp cho công việc thành công lại không được viết ra vì nó là thường quá không mang tính khoa học. Công lao của Gs. Nguyễn Văn Uyển là đã làm cho nuôi cấy mô khoai tây chuyển sang vị thế không còn là đối tượng của các công cuộc nghiên cứu khoa học nữa. Tuyệt diệu nhất là sản xuất giống khoai tây bằng cấy mô đã trở thành một nghề. Và không chỉ có thế, nghề dạy nghề, nhiều giống hoa quý, giống rau và dâu tây đã và đang được nhân giống tại Đà Lạt bằng nghề cấy mô.

Ngày nay năng lực cạnh tranh biểu hiện ở năng lực triển khai nghiên cứu R&D. Kinh nghiệm nghiên cứu ở các quốc gia như Nhật và Mỹ, Đức, Pháp… trong các công ty thường gấp đôi so với kinh phí của nhà nước. Nếu chỉ tính riêng kinh phí nghiên cứu triển khai R&D thì phần đóng góp của các công ty là 85%. Đặc biệt Hàn Quốc có kinh phí đầu tư R&D trong các công ty rất cao, tỷ lệ phần đầu tư của nhà nước so với phần do các công ty là 1/9.

58. PHỎNG SINH HỌC VÀ PHỎNG KỸ HỌC

Phỏng sinh học là phương pháp mô phỏng hoạt động của cơ thể sống vào việc chế tạo máy móc cũng như áp dụng vào tổ chức bộ máy xã hội. Phỏng sinh học coi một tổ chức có cái cách hoạt động cũng như một cơ thể người. Mỗi sự vụ trục trặc dù là ở đâu cũng làm rúng động toàn bộ cơ thể.

Phỏng kỹ học là phương pháp dùng mô hình kỹ thuật hay những mô hình vật lý, hóa học… để giải thích bản chất các quá trình mang tính tự nhiên hay xã hội. Trong một thời gian đầu của công nghiệp hóa cách tổ chức xã hội thường được mô phỏng theo cơ học. Xã hội học ngày càng mang tính biện chứng hơn, phù hợp hơn với thực tiễn một phần cũng là nhờ tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Đa dạng sinh học và các khái niệm sinh thái học đang được sử dụng ngày càng nhiều trong quan lý xã hội. Khái niệm đa dạng sinh học cho rằng trong tự nhiên con voi quan trọng và con kiến cũng quan trọng không kém.

Hạt lúa rơi vãi là quá nhỏ bé với voi nhưng lại hơn cả mơ ước với kiến. Nếu trong rừng chỉ toàn là voi thì những hạt lúa rơi vãi tất nhiên là bị bỏ phí, một khâu trong dây chuyền thức ăn như vậy là bị đứt.

Nếu biết được rằng toàn bộ nước sinh hoạt của chúng ta là nước cất, bạn sẽ rất quý và nâng niu từng giọt. Thực tế đúng là như vậy, nước của tất cả các cơn mưa trên mặt đất và chảu tụ lại thành sông là do mặt trời chưng cất từ các đại dương. Một năng lượng khổng lồ từ mặt trời nhưng khi đến chỗ chúng ta thì còn được bao nhiêu. Nhưng dù là bao nhiêu thì nước đối với chúng ta vẫn vô cùng quan trọng và quý giá.

Khái niệm này giúp cho các nhà xã hội học hiểu hơn sự cần thiết của việc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh trong nền kinh tế. “Tồn tại là hợp lý”. Tức là một mặt rất cần những công ty thật lớn làm đầu kéo cho nền kinh tế, mặt khác cần rất nhiều công ty nhỏ để tăng cường tính năng động xã hội.

59. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU

“Tại Mỹ, một cuộc trắc nghiệm bằng cách cho mọi người nếm thử 2 loại bơ đậu phộng đựng trong lọ giống nhau và không có nhãn hiệu. Sau đó dán nhãn hiệu thật đẹp và ấn tượng vào lọ bơ bị 70% người nếm thử cho là dở, đồng thời dán nhãn xấu xí vào lọ bơ được khen ngon, rồi đưa cho nhóm người đó thử lại, kết quả đã đảo ngược. Có đến 73% người nếm cho rằng loại bơ có nhãn đẹp ngon hơn”. Rechard Moore chuyên gia người Mỹ với hơn 30 năm kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá thương hiệu đã đưa ra ví dụ trên tại cuộc hội thảo “Trao đổi kinh nghiệm xây dựng và quảng bá thương hiệu” ngày 30-11-2002 tại TPHCM, để khẳng định “một thương hiệu tốt sẽ giúp cho tiêu thụ sản phẩm dễ dàng hơn”.

Những người tổ chức cuộc hội thảo này còn đi xa hơn khi ví việc xây dựng thương hiệu Việt như một cuộc Duy Tân thứ hai. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, phong trào Duy Tân mà những bậc tiền bối khởi xướng những năm đầu thế kỷ 20 thực chất là học cách buôn để tự lực tự cường về kinh tế. Trong thời buổi kinh tế toàn cầu như hiện nay, áp lực cạnh tranh đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải nhanh chóng có những thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh khi hội nhập, rõ ràng rất cần cuộc duy tân lần thứ hai như cách cha ông ta đã từng làm nhưng phải làm ở một mức cao hơn.

Thực chất của quá trình hoạt động kinh doanh là hoạt động xây dựng và bảo vệ thương hiệu. Trong kinh doanh có thương hiệu là có tất cả. Việc xây dựng thương hiệu của một doanh nghiệp và xây dựng nhãn hiệu cho một loại hàng hóa nào đó đều phải tốn kém rất nhiều, nhưng việc quảng bá và bảo vệ uy tín của chúng ta càng tốn kém hơn. Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Vô hình nhưng hữu hình vì có thể mua, bán, chuyển nhượng được với một giá trị thực bằng tiền. Một ví dụ là năm 2000 hãng Electrolux đã phải bỏ ra 50 triệu đô la để mua lại tên mình tại Mỹ và Canada vì trước đó 34 năm Electrolux đã bán chi nhánh của họ tại Bắc Mỹ cho hãng Sara Lee kèm theo quyền sử dụng thương hiệu Electrolux.

Một nhà doanh nghiệp không bao giờ dại dột hoạt động núp bóng thương hiệu của người khác. Tuy núp bóng có cái tiện là nhanh. Việc cố ý gây nhầm lẫn thương hiệu của mình với một thương hiệu có giá trị có thể hưởng lợi ngay. Nhưng điều chưa ý thức được là mọi công sức và thành công của mình cũng lại là để đóng góp thêm cho thương hiệu của người khác. Việc gì sẽ xảy đến khi người ta không cho núp bóng nữa. Cuộc chiến thương hiệu sẽ thực sự gay go trong thế kỷ 21, thế kỷ của kinh tế tri thức, trong đó quyền sở hữu trí tuệ là chiến trường quan trọng nhất.

Khi đưa một sáng chế mới vào sản xuất thì phải cò một thương hiệu cho nó, như một em bé ra đời phải được khai sinh và có tên họ đầy đủ. Thương hiệu một khi được đăng ký nó sẽ mãi là của bạn. Ở quy mô doanh nghiệp không có thương hiệu cũng đồng nghĩa là chưa có sáng tạo và không có cơ sở để bảo vệ sự sáng tạo.

Theo Ngô Quý Tùng, người có sáng kiến kỹ thuật hữu ích chưa chắc đã là nhà sáng tạo, chỉ có những người dám bỏ tiền ra mạo hiểm đầu tư dám đưa sáng chế mới vào sản xuất mới là nhà sáng tạo.

Sáng tạo là linh hồn của sản xuất. Theo J.A.Schumpter sáng tạo kinh tế bao gồm 5 nội dung sau:

1) Đưa ra một loại sản phẩm hay đưa ra một chất lượng mới cho một loại sản phẩm. 2) Áp dụng một phương pháp mới cho sản xuất. 3) Mở ra một thị trường mới. 4) Tạo ra một loại nguyên liệu hoặc một loại bán thành phẩm mới. 5) Hình thành một hình thức tổ chức xí nghiệp mới.

Có thể bạn chưa biết, cứ mỗi đĩa CD bán ra, người chủ sở hữu công nghệ làm đĩa CD, hãng Sony và Philips được hưởng 3 cent Mỹ. Cứ mỗi máy nghe nhạc CD bán ra, hai hãng này hưởng thêm 3% trên doanh số. Khoản thu không lồ vài trăm triệu đo la Mỹ cứ thế rót vào túi hai hãng này đều đặn mỗi năm. Vì thế, việc đăng ký bản quyền rất hữu ích và quan trọng. Tuy nhiên, bản quyền chỉ được nhà nước bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 7-12 năm, tối đa 20 năm tùy loại hàng hóa và tùy nước, sau đó người khác cũng được sản xuất theo. Và trong thời gian quý báu được bảo hộ đó bạn không được ngủ quên trên chiến thắng. Bạn phải nhanh chóng thu hồi vốn và đầu tư chiều sâu, tạo ra sự thay đổi về chất cho những thế hệ sản phẩm tiếp theo.

Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến cho rằng thời hạn bảo hộ quyền tác giả mà các nước phát triển áp đặt hiện nay là quá dài. Điều này một mặt khuyến khích việc sáng tạo ra các giá trị tri thức, nhưng mặt khác có thể làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng mở rộng ra vô tận.

Không phải nhà quản lý kinh doanh nào cũng là nhà sản xuất. Chỉ có những nhà kinh doanh dám đề xướng và thực hiện các hoạt động sáng tạo và xây dựng được những thương hiệu của mình mới là nhà sản xuất, còn không các hoạt động kinh doanh đó dù là hoạt động chế tạo cũng chỉ là gia công, không phải sản xuất.

Bản thân sáng tạo là một hàng rào kỹ thuật, là một cách bảo vệ thương hiệu và là cách tốt nhất. Những sáng kiến sẽ được sáng tạo ra trong tương lai không thể bị mất ở thời điểm hiện tại. Khi đối thủ có vài sáng kiến mà bạn sáng tạo tới 1000 sáng kiến hay giải pháp hữu ích, dù đó chỉ là những sáng kiến bé li ti, nhất là những sáng kiến không nhìn thấy được bằng mắt mà nằm ẩn sâu trong công nghệ chế tạo, bạn sẽ nhanh chóng vượt qua đối thủ. Bằng cách sáng tạo như thế bạn đã cho thêm giá trị gia tăng vào thương hiệu của bạn và làm cho thương hiệu của bạn được củng cố giá trị từng ngày.

Giá trị vô hình, còn gọi là tài sản vô hình và tài sản phi vật thể của một thương hiệu là tổng hòa các giá trị bao gồm: con người, tri thức, cơ sở dữ liệu,hệ thống tổ chức, sở hữu trí tuệ, năng lực sáng tạo, phát minh, sáng chế, hoạt động nghiên cứu triển khai R&D, bí quyết công nghệ, sự độc đáo, danh tiếng cùng với mối quan hệ thị trường, trong đó hai yếu tố sau cùng thường chiếm giá trị rất cao vì nó bao trùm lên các yếu tố kia. Giá trị thương hiệu biểu thị năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua sản phẩm cùng với sự hoạt động của nó.

Trong tài sản vô hình, tài sản trí tuệ và tài sản tri thức là rất quan trọng. Theo Richard Hall và Roger Bohn, có bốn loại tài sản trí tuệ chính, đó là : thương hiệu, sáng chế, bản quyền, kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký. Tài sản tri thức bao gồm: danh tiếng, các mạng lưới tổ chức và nhân sự, tri thức và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên có kỹ năng.

Do thương hiệu được xây dựng với nhiều yếu tố nên có nhiều cách để xác định giá trị của nó, nhưng thường thì người ta hay căn cứ vào: 1) Chi phí đầu tư cho thương hiệu 2)Vị trí của nó trên thương trường. 3) Hiệu quả kinh doanh. Các yếu tố này có liên hệ mật thiết với nhau nhưng không phải bao giờ cũng tương đồng. Không phải cứ đầu tư cao là thương hiệu đương nhiên có giá trị cao hơn.

60. TRUNG BÌNH KHÁ

Những con số thống kê cho thấy: 100 tỷ phú giàu nhất thế giới là những người có học vấn trung bình khá trong xã hội kể cả Bill Gates, đại diện cho kinh tế tri thức. Không phải học vấn càng cao là càng giàu.

Các ngôi sao bóng đá là những người có tầm vóc trung bình khá, đặc trưng dân tộc, kể cả Maradona của Achentina hay Hồng Sơn của Việt Nam cũng vậy. Không phải càng to cao là đá bóng càng giỏi.

Kim Woo Chung khuyên rằng: “Hãy trở thành chuyên gia, chuyên viên nhưng không tới mức độ trở thành mù tịt với mọi vấn đề khác. Dù chuyên môn của bạn là gì đi nữa thì bạn cũng phải có tầm hiểu biết chung đủ rộng, lúc đó bạn mới là người có văn hóa, có tri thức”.

Trong chọn giống bò sữa người ta chọn các cá thể cho sữa mức trung bình khá. Những cá thể cho sữa nhiều nhất sau một số thế hệ lựa chọn thường bị đẻ non do mất cân bằng nội tiết tố.

Trong kinh doanh, những người hạ giá xuống thấp nhất để giành mối cũng như những người bán hàng giá cao nhất đều không phải là người có lợi tức lớn nhất. Những người có lợi tức lớn nhất khi biết cân đối giá cả hợp lý để vừa đạt doanh thu cao vừa có lãi.

61. ĐA DẠNG

Những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của đa dạng và đặc trưng nhất là đa dạng trong tư duy. Chính nhờ đa dạng trong cách nghĩ nên đã hình thành nên nền kinh tế tri thức. Nhờ đa dạng trong tư duy mà mỗi người một vẻ, không ai giống ai và nhờ vậy thành công của mỗi người là đóng góp cho thành công của mọi người.

Đa dạng là để có thể phát triển bền vững trong môi trường xã hội. Đa dạng là có những cái khác nhau. Khác nhau trong tiểu tiết giống nhau trong nét lớn, đại đồng tiểu dị là hợp, giống y hệt nhau là khắc, là khó hiệp đồng.

Giáo sư môn Quản lý chiến lược và quốc tế thuộc trường kinh doanh London, Gary Hamel cho rằng: tầm nhìn của ngày hôm qua là trói buộc của ngày hôm nay. Điều mà các công ty cần là phải nghe được những giọng nói lạ. Ở nhiều tổ chức, các cuộc bàn luận về tương lai chỉ xoay quanh chừng ấy con người và chừng ấy đề tài. Theo thời gian người ta bắt đầu thiếu đi tính đa dạng di truyền. Thất trớ trêu khi ở hầu hết mọi công ty, những người trẻ vốn là tương lai của công ty lại bị tước bỏ quyền tranh luận.

Muốn đa dạng phải sáng tạo, hoặc biết chấp nhận sáng tạo hoặc biết chấp nhận sự khác biệt trong cách sáng tạo của người khác và chung sống trong sự khác biệt . Phải biết cách suy nghĩ không chỉ một chiều, không chỉ nghĩ theo chiều thuận mà còn biết nhìn nhận vấn đề theo chiều ngang và cả chiều nghịch nữa.

Bill Gates kể rằng: “ Tôi có một quyết tâm là mỗi tuần đọc hết một tờ báo tuần ví nó mở rộng mối quan tâm của tôi. Nếu tôi chỉ đọc những gì mình thích ví dụ trang tin khoa học và một vài tin trong mục kinh doanh, thì khi liệng tờ báo sang một bên, con người tôi cũng chẳng khác gì tôi lúc trước khi đọc”.

Có tứ đại kỵ do giống nhau đó là: đồng lứa là cùng tuổi, đồng nghề là làm cùng một chuyên môn như nhau, đồng nghiệp là làm chung cơ quan hay công ty với nhau và đồng sở thích. Giống nhau làm giảm tính đa dạng, giống nhau làm cho những sáng tạo không được chào đón vì bị hiểu nhầm là không mới lạ hoặc bị bắt chước.

Có lẽ trong tất cả giảng trình của trường Đại học Harward không có giảng trình nào thu hút được nhiều sinh viên theo học như giảng trình 101 tư duy về tư duy. Giáo sư tham gia giảng dạy thường là 3 người thuộc 3 chuyên ngành khác nhau, số lượng cán bộ phụ giảng lên đến 20 người. Mỗi cán bộ phụ trách một nhóm thảo luận từ 20 đến 25 sinh viên. Tính hấp dẫn của chương trình này là do: 1) cùng lúc có 3 giáo sư vừa giảng vừa tranh luận nhau ngay trước sinh viên. 2) giảng trình mang tính liên ngành giữa khoa luật, triết và kinh tế. Điều này cần thiết là do mỗi nghề đều đòi hỏi sự giao thoa với nhiều ngành nghề khác. Bởi vậy đừng giữ khư khư sự hiểu biết trong một chuyên môn quá hẹp. Với thời đại thông tin và kinh tế tri thức, một chuyên môn hẹp sẽ khiến ta tự cô lập mình. 3) Các sinh viên trực tiếp tham gia tranh luận nhất là các đề tài mang tính thời sự nóng bỏng theo kiểu phê phán và sáng tạo. Sinh viên toàn quyền giơ tay phát biểu, tranh luận với thầy cô thoải mái, không có chuyên bắt lỗi.

Đây chính là nét đặc trưng trong việc giáo dục tính tư duy độc lập có phê phán của đại học Mỹ. Trước khi có sáng tạo ra một ý gì mới cần có thái độ tiếp thu một cách có phê phán những tư tưởng truyền thống một cách nghiêm túc. Sinh viên cần học được cách tìm những lý lẽ khác nhau để phản biện một quan điểm thông qua thảo luận. Thái độ của giáo sư là cởi mở tôn trọng ý kiến sinh viên và đặc biệt khuyến khích tranh luận. Sinh viên càng tranh luận sôi nổi hào hứng, lớp học càng được đánh giá cao.

Công việc giảng dạy tư duy phê phán này đã dung hòa đi nhược điểm của tranh luận, nhất là ở những nước Châu Á, nơi mà tranh luận dễ bị đồng hóa với tranh cãi, tranh chấp hay chống đối. Thêm nữa, truyền thống tôn sư trọng đạo, thầy cũng như cha, mà dạy con chứ làm gì có chuyện con dạy cha. Phát ngôn trong những trường hợp có ý kiến trái nghịch dễ bị tội bất kính. Trong khi ở phương Tây tư duy độc lập có phê phán là một khoa học thì ở Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn đang còn là một nghệ thuật.

Về nguyên tắc, trong một hệ kín phát triển có dạng hình chữ S. Bắt đầu là giai đoạn trì trệ, sau đó là giai đoạn lũy tiến và cuối cùng là giai đoạn bão hòa. Điều này áp dụng cho số lượng vi khuẩn phát triển trong một giọt thức ăn, cũng như doanh số bán một sản phẩm trong một thị trường xác định. Việc phát triển một loại cây, một loại con hay một loại sản phẩm công nghiệp bất kỳ nhất định nào cũng vậy bao giờ cũng có ngưỡng số lượng của nó.

Cây cà phê robusta ở Tây Nguyên, vải ở Lục Ngạn hay cây nhãn ở đồng bằng sông Cửu Long cũng vậy. Khi phát triển quá mức nhất định, hàng ngàn hecta nhãn, vải, cà phê được đốn bỏ và đưa vào lò đun như củi. Sẽ phải lường trước con tôm sú, con cá basa cũng sẽ như vậy nếu nuôi quá nhiều. Nhưng ngay khi sản lượng bị giảm đến một mức nhất định thì giá cà phê, vải, nhãn cũng như mọi loại nông sản hàng hóa khác sẽ đột nhiên tăng giá trở lại. Bài học là không được say mê quá mức vào một cây một con nào đó dù là hiện đang rất lời.

Quảng cáo đẩy nhanh doanh số đến giai đoạn lũy tiến và cũng mau dẫn đến bão hòa. Tuy nhiên, trong một hệ mở thì khác. Khai phá các thị trường mới, hoặc là nghiên cứu phát triển liên tục các hệ sản phẩm mới dựa trên các nguyên lý mới hay vật liệu mới thì sự phát triển sẽ không giới hạn.

Theo Bill Gates: “Mọi công ty đều tránh đi vào lối mòn trong kinh doanh. Những công ty lớn thành công, giữ được vị trí độc tôn trong kinh doanh, là những công ty biết làm cho sản phẩm của mình trở thành lỗi thời trước khi ai đó làm điều này”.

Trong một không gian sống sinh thái học chứa một số lượng cá thể nhất định ở mức tới hạn, việc xuất hiện một tập hợp cá thể mới, về mặt hình thái có thể rất giống với số cá thể đang sống ở đó, nhưng một khi chúng sống chung với nhau được và không làm giảm số lượng của nhau có nghĩa là chúng thuộc hai loài khác nhau.

Trong chọn giống, trước tiên người ta phải lai giống hoặc gây đột biến gien để gia tăng phổ đa dạng di truyền. Tiếp theo mới là công việc chọn các cá thể ưu tú trong quần thể rất đa dạng về di truyền đó. Ưu thế lai là trường hợp con lai có đặc tính vượt trội so với bố mẹ. Bố mẹ càng khác biệt về nguồn gốc xuất xứ thì xác xuất nhận được ưu thế lai càng cao. Cây bắp lai là ví dụ điển hình thành công của ưu thế lai trong chọn giống ứng dụng vào trong sản xuất.

Trong kinh doanh, khác nhau về lượng dù nhiều cũng chưa phải là khác nhau, không tạo nên sự đa dạng. Khác biệt đủ để tạo nên sự đa dạng phải là sự khác biệt về chất.

Khác nhau về lượng tạo nên sự cạnh tranh. Cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng nhưng lại tạo áp lực lên các doanh nghiệp cùng ngành. Chỉ khác nhau về chất thì hai doanh nghiệp mới có nhu cầu hợp tác. Hai doanh nghiệp cùng làm ngành dệt may, nhưng một làm dệt một làm may thì gắn bó liên kết và có khả năng hợp nhất với nhau dễ hơn khi cả hai cùng làm may hoặc cùng làm dệt.

Ta là vô cùng bé, thiên hạ là vô cùng lớn. Không có việc gì ta làm được mà mọi người trong thiên hạ không làm được. Muốn khẳng định được mình trước mọi người bạn nên chọn những việc mà người ta ít ai làm hoặc ít ai lảm được. Nếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể làm mọi chuyện trừ những việc của nông dân. Chắc chắn bạn sẽ thua trong cuộc cạnh tranh đó.

Không thể sống khỏe mãi chỉ bằng một chiêu sở trường của mình bởi vì: “ Sở trường ở đâu sở đoản ở đó”. Không thể làm giàu với một sản phẩm không đổi.

Covey trích dẫn của nhà giáo dục, Tiến sĩ R.H.Reeves: “Trường học của các loài vật”.

“Vịt bơi rất giỏi nhưng nó tập chạy cho đến khi đôi chân màng của nó bị rách. Sóc leo rất giỏi nhưng nó đã thất bại khi học bay. Thỏ đứng đầu lớp về môn chạy nhưng đã suy nhược thần kinh bởi vì phải tập bơi nhiều quá. Diều hâu là một đứa trẻ khó bảo. Trong lớp học trèo leo nó đánh bại tất cả các con vật khác trên ngọn cây, nhưng nó chỉ biết có mỗi một cái cách của nó để lên đến đó.

Vào năm cuối, một con lươn không bình thường có thể bơi rất tốt và cũng thể chạy, leo trèo, bay một tí đã được điểm trung bình cao nhất và được cử làm đại biểu cho học sinh đọc diễn văn bế mạc.

Nhưng con chó không vào trường bởi vì ban giám hiệu nhà trường không đưa vào chương trình các môn đào, bới. Chúng cho con cái đến học nghề với con nhím và sau này theo chuột chũi và rùa đất mở một trường tư rất thành đạt”.

62. THỦ LĨNH

Cho dù hiện nay chúng ta đang ở vào giai đoạn dân chủ cao nhất,ý thức về sức mạnh vĩ đại của quần chúng nhân dân được biểu hiện tốt nhất so với từ trước tới nay trong lịch sử phát triển loài người, nhưng vai trò của người thủ lĩnh trong công việc lãnh đạo vẫn thế. Xưa kia hai tướng vô đấu, tướng thua thì quân vỡ, dù đông quân và có trang bị mạnh hơn vẫn tan vỡ. Ngày nay quy mô xí nghiệp có thể nhỏ nhưng giám đốc giỏi vẫn thắng. Và ngược lại, xí nghiệp lớn nhưng giám đốc kém thì vẫn thua. Như vậy trong một nhóm làm việc, lãnh đạo phải như một thủ lĩnh, phải là người có năng lực cao nhất. Thủ lĩnh không những chỉ huy mà còn là mẫu mực cho người khác học theo.

Một cách diễn đạt khác, lãnh đạo phải nhàn thân. Trong khi lo trăm công nghìn việc, lãnh đạo không được phép sa đà vào các việc sự vụ, không quan niệm kiểu “lấy cần cù bù khả năng”. Ôm việc là biểu hiện bị chê của cung cách quản lý kém chứ không được khen là chăm chỉ. Nếu công việc cứ tự tay mình làm hết thì tạo ra cơ cấu và bộ máy làm gì. Phải dành thời gian cho riêng mình để tư duy. Lãnh đạo cần có thời gian nghỉ ngơi thư giãn hợp lý để tập trung giải quyết những vấn đề mang tính then chốt, đòn bẩy, nói cách khác là những công việc mang tính chiến lược. Người xưa dùng hình tượng là: “Ngồi sau màn chướng tính chuyện ngàn dặm”

Trong lịch sử chiến tranh, quyết định cho thành công là trình độ của người đứng đầu, của minh chủ, của chủ soái. Trong Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung cho chúng ta thấy dù Khổng Minh rất giỏi mưu lược tính toán, Quan Công võ nghệ cao cường nhưng chung cuộc thì Tào Tháo thắng. Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên may rủi của lịch sử mà có lý do của nó, bởi vì một mình Tào Tháo có đủ tố chất của cả ba người: Khổng Minh, Quan Công và Lưu Bị.

Ngày nay thương trường là chiến trường người lãnh đạo phải giỏi toàn diện. Lãnh đạo càng có năng lực, hiểu biết càng rộng, xác xuất chiến thắng cho bên ta càng cao. Giống như trên sàn đấu võ, trí và lực chỉ cần chênh nhau một tí là thắng.

Advertisements