CÙNG CÓ LỢI

Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân

Tục ngữ Việt

23. TRÁNH NHỮNG BIỆN PHÁP CỰC ĐOAN CÙNG CÓ LỢI

Cái gì quá cũng không tốt kể cả tốt quá. Thành công là tốt. Nhưng thành công quá mức thì không còn tốt nữa. Khôn quá hóa ranh, ranh quá thì khiến người ta sợ không dám chơi với mình nữa. Kinh Dịch viết: “Vật cực tức phản”. Thái quá thì cũng có hại như bất cập.

Thuyết lòng máng phát biểu rằng: Lịch sử phát triển là lịch sử của những giải pháp mang tính cực đoan ngày một ít hơn. Cũng giống như khi cho một hòn bi lăn theo máng, nếu ban đầu càng đặt lệch nó về bên trái thì trong quá trình lăn xuống nó sẽ chạy càng lệch về bên phải và ngược lại. Trong quá trình chạy dao động tắt dần. Cho nên tình huống xảy ra là một giải pháp được coi là đột phá rất hay của hiện tại thì trong tương lai có thể chỉ là một hình thức sai lạc dù ít dù nhiều. Vì vẫn là sai lạc nên quá trình tiến hóa mới còn việc để làm và cùng với thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp lên. Mọi nỗ lực thực hiện quá mức triệt để ở thời điểm hiện tại làm cho sai lầm thêm trầm trọng một khi được tương lai phán xét.

Cố gắng tránh các giải pháp tối đa. Không nên có kiểu suy nghĩ: “càng… càng tốt”. Không đơn giản trong suy nghĩ rằng càng nhiều thì càng tốt hay càng ít càng tốt… bởi vì quá bài bản không bằng không có bài bản. Quá linh động không bằng không linh động. Các nguyên lý về phát triển bền vững khẳng định rằng tận thu là hủy diệt nguồn thu. Tận thu còn tệ hơn thất thu. Khai thác quá mức rồi sẽ không còn gì để khai thác nữa. Điều này đúng cho cả tự nhiên, xã hội và con người.

Muốn tránh thái cực cần biết tư duy nhiều chiều. Chiều thuận, chiều ngang và cả chiều nghịch. Khi dựng một cái cột, cần phải ngắm cột từ hai cách nhìn khác nhau thì cột mới ngay. Khi nhìn nhận một sự việc thì cũng phải biết nhìn nhận từ hai nhãn quan khác nhau. Nói cách khác là : “Phải biết tai nghe bốn phương mắt nhìn tám hướng” thì công việc mới xuôi.

Tâm lý sáng tạo được Psychology Today kết thành “năm khy ông” đó là: không nghe một phía, không nghĩ một chiều, không nhìn một hướng, không làm một cách, không nói một kiểu. Khi nói một câu mà mọi người không hiểu, việc nhắc to lại một lần hay nhiều lần thường không giúp ích được gì. Hãy chọn cách diễn đạt khác phù hợp với tâm thế hoặc tiếp cận trình độ người nghe có lẽ sẽ giúp ích hơn cho việc hiểu nhau.

Khi thành công phải biết nghĩ tới lúc trì trệ, lúc ăn nên làm ra thì phải phòng khi thất bát, no phải nhớ lúc đói để tránh phung phí. Đang là ngôi sao thì cũng phải nhớ mình thành công là nhờ công sức của đồng đội. Là lãnh đạo có vì số đông thì mới được mọi người đồng tình ủng hộ.

Điều mà chúng ta ai cũng biết là muốn làm ăn lớn thì phải hợp tác. Trên thực tế, khi người ta chưa thể hợp tác được với nhau là do quyền lợi cá nhân của các bên chưa được đảm bảo. Muốn có đối tác trước tiên lòng mình cũng có ý muốn đảm bảo lợi ích cho đối tác. Nếu mình chỉ nghĩ đến mình không thôi thì không thể hợp tác được.

Mặt khác cũng phải tự biết cách tự mình giữ chìa khóa cho mình. Nguyên lý trong làm ăn là: “Yêu nhau rào dậu cho kỹ”. Có nghĩa là muốn hợp tác bền vững, cùng có lợi thì mình phải khác về chất so với đối tác, tức là dù có tiết lộ hết bí mật thì đối tác cũng vẫn cần đến sự đóng góp của mình, vì đối tác không thể thay mình mà tự làm hết mọi công việc được. Chỉ trong điều kiện an toàn như vậy mới có thể hợp tác được.

24. LÒNG TIN

Hãy thỏa thuận khi bắt đầu cày ruộng. Đừng để cãi nhau khi mùa gặt đến.

Ngạn ngữ Ả Rập

Trung thực là có sao nói vậy, đây là lời nói phù hợp với thực tế, còn giự lời là làm được chuyện trên thực tế phù hợp với điều mình đã nói. Nói cách khác là biết giữ tín. Theo định nghĩa của Covey: điều này yêu cầu một tính cách trọn vẹn, một thể thống nhất, chủ yếu là đối với bản thân, cũng như với cả cuộc sống nữa. Không phải đợi đến khi làm công việc lớn thì mới phải giữ lời. Trước tiên và quan trọng hơn cả là biết cách giữ đúng những gì đã cam kết với mình thì sau đó mới mong giữ được cam kết với mọi người.

Trong nền kinh tế mới, nền kinh tế dựa vào tri thức, một khái niệm đang được nói đến ngày càng nhiều đó là vốn xã hội. Vốn xã hội không chỉ đơn thuần là nguồn vốn có trong xã hội hay vốn của xã hội. Đây là vốn của con người. Theo Leadbeater, có hai phần cấu thành cơ bản nhất của vốn xã hội đó là sự hợp tác và lòng tin. Muốn đổi mới sản phẩm và biến các ý tưởng sáng tạo thành hiện thực cần có sự hợp tác của rất nhiều người với những kiến thức, kỹ năng và sự hiểu biết thuộc nhiều ngành nghề khác nhau với tư cách là những chuyên gia trong các lĩnh vực như kinh doanh, tài chính… cũng như nhiều mặt khác của khoa học, kỹ thuật và công nghệ… Trong bối cảnh đó, lòng tin được coi là điều kiện tiên quyết để người ta có thể hợp tác với nhau trong buôn bán quốc tế và nhất là để tham gia các giao dịch trên mạng. Cho nên cũng có thể nói: Lịch sử là lịch sử phát triển của lòng tin.

Có thể định nghĩa lòng tin vào người khác là sự yên tâm rằng người ta cũng nghĩ như mình và sẽ cư xử đúng như là mình mong đợi hoặc hành động theo như lời họ đã hứa. Theo Trần Hữu Quang, đó là một tâm thế cởi mở, không định kiến với người khác, kể cả những người chưa quen biết. Theo tự điển Oxford thì trust , sự tin cậy, là tin rằng người nào đó hay cái gì đó là tốt, là thành thật, là tử tế… và người đó hay cái gì đó sẽ không làm hại mình hay dám lừa mình. Sự tin cậy là một yếu tố đóng vai trò then chốt trong tất cả các mối quan hệ giữa con người với con người, kể cả trong đời sống riêng tư và công cộng. Bởi vì không tin nhau thì người ta khó có thể sống chung với nhau được. Ngay như chuyện đơn giản nhất như đi đường chẳng hạn, các phản ứng của mỗi người chạy xe cũng mặc nhiên bao hàm sự tin cậy vào người khác. Khi gặp đèn đỏ, ai cũng nghĩ rằng mọi người sẽ dừng xe lại và khi bật đèn xanh mới có quyền chạy tiếp. Khi nghĩ như vậy, ai cũng tin rằng mặc nhiên người khác sẽ dừng xe lãi khi đèn đỏ để nhường đường cho mình vì mình đang đèn xanh.

Tin cậy bao giờ cũng là tin cậy lẫn nhau, giữa người này với người khác. Tuy nhiên, có một việc cần phải có ý thức rõ đó là :

Nguồn gốc của sự tin cậy không phải chỉ do thiện chí chủ quan của từng cá nhân, mà xuất phát từ các định chế xã hội và tổ chức xã hội, nghĩa là trên nền tảng quy ước xã hội.

Sở dĩ người ta tin tưởng lẫn nhau khi đi đường vì có luật giao thông và nhất là có một định chế (bao gồm cảnh sát giao thông, hệ thống tín hiệu…) để đảm bảo luật này được mọi người tôn trọng. Suy cho cùng, sự tin cậy lẫn nhau là hệ quả phụ thuộc vào mức độ vững chắc và mức độ đáng tin cậy của định chế tổ chức dưới con mắt của các chủ thể. Và đây chính là cơ sở xã hội của sự tin cậy, của lòng tin.

Ngày nay không ai xa lạ với tiền giấy và ai cũng hiểu không nhất thiết là phải dùng vàng trong giao dịch. Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Quý Ly là người đầu tiên phát hành tiền giấy. Vào thời của mình, ông là một nhà cách mạng trong lĩnh vực tiền tệ với quyết định đưa tiền giấy vào lưu hành. Tiếc rằng người cùng thời với ông đã không hiểu và không đặt vào đó niềm tin nên việc lúc đó không thành. Điều này cho thấy việc cho ra đời một định chế mới thì khó khăn đến chừng nào. Không phải cứ tốt, cứ mang tính cách mạng là dễ dàng được xã hội chấp nhận.

Trong một xã hội càng phát triển, càng có nhiều cơ sở để tin tưởng lẫn nhau hơn. Đây là sự phát triển của lòng tin dựa trên cách định chế và các tổ chức xã hội ngày một hoàn hảo hơn. Như vậy, đặt vấn đề lòng tin ở đây không chỉ đơn thuần là đặt ra một vấn đề đạo đức cá nhân, mà là đặt vấn đề về một trong những nền tảng của tư duy quản lý khoa học và dân chủ.

25. MINH BẠCH

Lợi ích của minh bạch có lẽ không phải là điều cần tranh cãi. Tuy nhiên, theo Nguyễn Sĩ Dũng, vấn đề là làm thế nào để có được sự minh bạch như có được mặt trời trong đời sống của chúng ta ? Minh bạch phải chăng được đảm bảo bởi quyền tiếp cận thông tin. Minh bạch phải gắn với công khai. Có thấy thì mới tin, đó là quy luật của nhận thức.

Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt để giành thị phần, doanh nghiệp chỉ cần làm mích lòng thượng đế một lần là coi như thua cuộc. Đơn giản là không một doanh nghiệp nào có được cơ hội để làm mích lòng thượng đế lần hai. Cơ chế lợi ích bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm cách cung cấp thông tin cho khách hàng đầy đủ nhất, nhanh chóng nhất. Đây là một sự bắt buộc tự nguyện một trong những điều tốt đẹp nà thị trường ban tặng cho tất cả chúng ta.

Một cách để có được sự minh bạch trong làm ăn là để đối tác nói trước nhu cầu của họ. Chấp nhận được thì làm, không được thì nói rõ là không và nên nói vì sao. Nều mình nói trước thì không ỡm ờ, không để tự hiểu. Mọi chuyện đều nên biểu hiện rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Đừng ngại ngùng sợ mích lòng để sau này thành lớn chuyện.

Trong mối quan hệ với đối tác nếu có mắc sai lầm thì chính là ở chỗ không dám nói rõ thực ra ta mong đợi gì. Vấn đề là phải xác định mục tiêu mà mình tranh đấu cho đạt là gì? Không để lửng lơ.

Một khi gây chiến với đối tác dù cho ai thắng thì các bên cũng đều thua. Do đó tuyệt nhiên không mơ tưởng đến việc thay đổi tình thế ngày càng có lợi cho mình hơn theo kiểu “được đằng chân lân đằng đầu”.

Minh bạch còn có nghĩa là nói công khai mọi chuyện trong nội bộ. Phải nói ở chỗ đông người giữa các cuộc họp. Không chỉ nói ở chỗ riêng tư giữa lãnh đạo và một hay một vài nhân viên. Phải biết cách trình bày trước toàn thể cán bộ nhân viên chính kiến của mình một cách công khai. Nhất là việc khen chê, nhận xét nhân viên dưới quyền của mình. Phải biết nhận xét công bằng không vị thân, không thiên vị riêng cho một hay một vài thuộc cấp trước mặt mọi người.

Vấn đề là, dù kinh doanh lúc nào cũng vì lợi nhuận, và có lúc chịu lỗ trước mắt để nhắm cái lâu dài, nhưng tham lam quá dễ dẫn đến gian lận và trước sau gì cũng sẽ bị phơi bày. Doanh nhân Việt cũng phải theo chiều hướng chung, đó là ngay thẳng về sổ sách giấy tờ nếu muốn được sự tín nhiệm của cổ đông trường hợp là công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán hay muốn trở thành một công ty niêm yết mới. Tổng giám đốc công ty Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam (AACC) Hà Quốc Khánh có nhận xét: “Tôi nghĩ làm việc với các công ty nước ngoài rất dễ vì họ có hệ thống kế toán rõ ràng, lành mạnh cũng như đã quen với việc sử dụng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp”. Để đi ra với thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải học cách để có hệ thống kế toán rõ ràng và lành mạnh không ngại và không dị ứng với kiện tụng dưới mọi hình thức.

Doanh nhân phải tự mình định hướng , dù trong bối cảnh nào cũng phải giữ được sự tin cậy của thị trường. Đây là việc chú ý xây dựng lòng tin của người tiêu dùng nói chung và của người bỏ vốn nói riêng. Công việc này phải tốn nhiều thời gian công sức nhưng lại dễ dàng bị mất nếu sự tin cậy ấy bị phản bội. Cũng giống như ánh sáng mặt trời và cuộc sống, để tạo lòng tin không gì bằng sự thật rõ ràng và minh bạch.

26.RÀNG BUỘC

Thiên hạ yếu mềm, không gì hơn nước

Mà đánh nổi cứng mạnh, không gì hơn nó

Lão Tử

Những vỏ xe lăn trên đường chịu đựng được hàng chục nghìn km nhờ vào tính mềm mại của nó. Chính nhờ sự mềm mại đó đã giúp xe vượt được nhiều trở ngại. Những chiếc bánh xe đầu tiên có vành sắt không thể chạy nhanh như bánh xe cao su ngày nay được.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Lạt mềm buộc chặt” theo nghĩa không thể dùng một cái thật cứng rắn để ràng buộc người khác.

27. CÔNG BẰNG

Trần Bình đời HÁn thuở hàn vi mỗi khi làng tế, ông ta phải cắt thịt chia phần, một công việc thời đó cho là hèn. Ông ta chia thịt rất khéo, rất công bằng, nghĩa là chức sắc lớn thì được miếng ngon, miếng lớn, dân thường không vai vế thì được miếng nhỏ, không ai phàn nàn cả, các phụ lão đều khen ngợi.

Trần Bình nói: “Bình này mà trị được thiên hạ thì cũng khéo như chia thịt đó”.

Sau, ông được trị thiên hạ thật, làm đến tể tướng.

Khi mình không bằng người, người sẽ giúp mình ở mức nhất định. Khi mình bằng người thì sự giúp đỡ qua lại sẽ phải là cùng có lợi.

Không ai lại giúp mình để mình hơn người. Nhưng người ta vẫn giúp mình nếu sự hợp tác có lợi cho các bên.

Công bằng là sự đảm bảo cho mọi đóng góp dù nhỏ đều được đánh giá tưởng thưởng. Thiếu công bằng làm triệt tiêu động lực hợp tác. Không đánh giá đúng sự đóng góp của đối tác làm cho đối tác không còn nhiệt tình với mình nữa.

Có người hỏi Khổng Tử: Lấy ân trả oán được không? Khổng Tử đáp: Vậy thì lấy gì trả ân? Chỉ cần lấy công bằng trả oán là đủ, thì mới có thể lấy ân trả ân.

28. KỶ CƯƠNG

Muốn làm ăn lớn phải hợp tác. Muốn hợp tác thì phải đặt “cùng có lợi” làm trung tâm. Nhưng một mình bạn muốn không đủ. Mọi người phải cùng ý thức. Nguyên lý là không cùng làm việc thì không ràng buộc. Nhưng đã ở trong tổ chức thì phải tuân thủ kỷ luật. Muốn đảm bảo cùng có lợi thì phải chống gian dối. Để chống gian dối, kỷ cương là phương tiện hữu hiệu nhất.

Có điều, những người phá mạnh nhất, làm sụp đổ cơ nghiệp thường là những người nằm trong tổ chức của bạn. Vị trí càng cao sức phá hoại càng mạnh. Cái khó trong quá trình làm việc là chính những người cơ hội nhất lại chỉ trích những người nghiêm túc là cơ hội. Chính những người bòn rút nhiều nhất từ công ty mà chẳng chịu làm việc gì cả vẫn có thể là người biết bắt lỗi người khác về tính kỷ luật, tính tổ chức và yêu cầu người khác về sự nhiệt tình cần có trong công việc.

Sự thật là, gian dối tuy có xảy ra ở chỗ này chỗ kia, nhưng không phải là không xử lý được. Các công ty càng lớn thì cách quản lý nhân viên lại càng cần có trật tự kỷ cương.

Muốn giữ được kỷ cương phải:

28.1 Sữa chữa các lỗi hệ thống

Lỗi hệ thống là lỗi phát sinh từ thể chế. Muốn phát hiện lỗi hệ thống phải biết cách sử dụng phản biện khi xây dựng cơ chế và biết cách sử dụng phản hồi khi vận hành cơ chế. Khi vẫn còn các lỗi hệ thống thì vẫn còn khó khăn trở ngại và không thể chống gian dối một cách triệt để.

Muốn tránh các lỗi hệ thống thì cơ chế phải chuẩn.

28.2 Lấy ưu tiên sản xuất làm trọng

Sản phẩm của sản xuất có thể là hàng hóa hay dịch vụ. Hàng hóa ở một chừng mực nhất định có thể đo đếm chất lượng trước khi mua. Nhưng dịch vụ thì khác, mua trước biết chất lượng sau. Để chống gian dối chất lượng trong dịch vụ đòi hỏi công tác chuẩn hóa dịch vụ một cách nghiêm ngặt dựa trên khoa học kỹ thuật. Quản lý là một kỹ thuật và là một ngành khoa học. Đồng thời dù là chuẩn theo kiểu gì thì vẫn phải lấy khách hàng làm đối tượng phục vụ.

Đây cũng là hoạt động cơ bản mang lại lợi nhuận nuôi sống toàn bộ công ty của bạn. Sản xuất là hoạt động vĩ đại nhất của loài người tạo ra cơ sở vật chất cho cuộc sống tốt đẹp hôm nay.

28.3 Các quyết định phải khả thi

Việc đề xuất một quyết định không khả thi đồng nghĩa với tách trách. Bởi vì các quyết định không khả thi làm cho thuộc cấp không thể thực hiện được.

Sẽ có hai tình huống xảy ra. Một là, cấp dưới có thể đổ thừa “một cách chính đáng cho khách quan”. Hai là, cấp dưới có thể tự động tháo gỡ và vô hình trung là vi phạm về cách quy định về quản lý. Trong trường hợp đó không thể phân biệt được đúng sai, tốt xấu và tất nhiên là không thể chống được gian dối.

Như vậy, người làm việc tốt vẫn có thể bị hại và người xấu vẫn nhân danh tháo gỡ những vướng mắc để vi phạm. Trong tình hình đó trật tự kỷ cương sẽ bị rối loạn.

28.4 Bảo đảm thu nhập chính thức của cá nhân trong sự ràng buộc tương xứng với trách nhiệm được giao.

Người cán bộ có thể có một vị trí rất cao trong bộ máy nhưng vẫn là một cá nhân. Khi làm việc người cán bộ có thể là nhà quản lý và cũng có thể là nhà lãnh đạo nhưng khi về nhà lại trở thành người thường với những lo toan thường nhật của cuộc sống. Đây là tính hai mặt của cán bộ.

Như vậy khi đi làm việc, công ty phải đảm bảo thu nhập chính thức cho cán bộ nhân viên của mình tương xứng với trách nhiệm được giao. Phải có cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân cả về tinh thần cũng như vật chất được hưởng thụ tương xứng với khối lượng và chất lượng công việc đã hoàn thành theo cách sòng phẳng nhất có thể.

28.5 Truy cứu trách nhiệm cá nhân thật nghiêm

Công tư phân minh. Khen thưởng và kỷ luật phải nghiêm, minh bạch, bất vị thân. Nói cách khác, có một và chỉ một chuẩn cho khen thưởng và kỷ luật. Không để xảy ra hiện tượng chụp mũ, oan sai. Đồng thời không để những kẻ gian dối ngoài vòng kiểm soát.

Truy cứu trách nhiệm mang tính răn đe phòng ngừa là chính. Việc quy trách nhiệm phải được làm thường xuyên, không để xảy ra sự cố bằng nhiều mức kiểm soát từ nhẹ đến mạnh. Nhắc nhở trách nhiệm cá nhân thường xuyên còn là để bảo vệ nội bộ.

29.ĐỒNG THUẬN.

Mọi ông hoàng đều cần có một đồng minh.

Trách nhiệm càng lớn càng cần có nhiều đồng minh.

Machiavelli

Năng lực của nhà quản lý cao cấp chính là năng lực của bộ máy quản lý. Năng lực của bộ máy quản lý bao gồm năng lực của bản thân nhà quản lý cộng với nhân lực, vật lực và tài lực dưới quyền. Cho nên, đồng thuận là chiến lược cốt lõi trong quản lý, đặc biệt là quản lý theo kiểu Nhật Bản, sao cho trên thuận dưới hòa, đồng tâm hiệp lực vì mục tiêu chung.

Cán bộ quản lý giỏi là người biết cách quản lý được cán bộ dưới quyền có trình độ chuyên môn cao hơn mình. Cán bộ quản lý kém chỉ quản lý được người có trình độ chuyên môn thấp hoặc kém hơn mình.

Trình độ của nhà quản lý trong một lĩnh vực hoạt động nhất định chính là tổng hòa trình độ thực hiện của toàn bộ cán bộ, nhân viên và bộ máy dưới quyền.

Trong một lĩnh vực cụ thể và chuyên biệt, trên nguyên tắc bao giờ cấp dưới cũng phải giỏi hơn cấp trên.

Cấp trên có nghĩ đến cấp dưới, có hết lòng vì sự nghiệp chung thì cấp dưới mới nghĩ đến công việc. Cấp dưới dù có lòng với công việc mà cấp trên không đánh giá được thì nhiệt huyết của cấp dưới sẽ từ từ tiêu tán hết.

Cho nên, giám đốc là hồn, nhà máy là xác. Hồn không thể thiếu xác, xác không thể thiếu hồn.

Trong một việc hay lĩnh vực nào đó, khi người được làm không làm được, còn người làm được lại không được làm thì có nghĩa là vẫn chưa có sự đồng thuận trong quản lý, tức là vẫn chưa đưa được hết nhân tài và vật lực phục vụ sản xuất.

Trình độ của nhà giáo, giảng viên biểu hiện ở học lực của học sinh, sinh viên. Ngày nay chúng ta được biết đến đức Khổng Tử chính là nhờ vào các học trò của người.

Thế giới biết đến Việt Nam và khâm phục Hồ Chí Minh là nhờ “Bộ đội cụ Hồ”

30. SỐNG CHUNG VỚI TOÀN CẦU HÓA

30.1 Toàn cầu hóa vốn và tri thức

Toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa tri thức. Dòng công nghệ sẽ chảy từ nước công nghiệp phát triển sang các nước nghèo cùng với dòng vốn. Và dòng tri thức chỉ chảy cùng với dòng vốn. Không có dòng vốn thì không có know how. Không có know how thì không có công nghệ. Không có công nghệ thì không có sản xuất hiện đại mà kết quả của nó là sản phẩm vật chất xã hội.

Một ví dụ, composting là thành tựu khoa học kỹ thuật của những năm 50 thế kỷ trước. Công nghệ là tổng hòa của khoa học, kỹ thuật và kinh doanh. Muốn kinh doanh phải dụng vốn. Để dùng được công nghệ composting trong sản xuất phân hữu cơ từ rác thải của Tp.Hồ Chí Minh, với quy mô 5000 tấn rác mỗi ngày, số vốn cần thiết là 200-250 triệu USD. Ở thời điểm hiện nay của Việt Nam, ai tiếp cận được nguồn vốn là người ấy có công nghệ. Không có vốn kinh doanh, công nghệ chỉ còn là khoa học, kỹ thuật thôi.

Chỉ tiếc là các đại học và các viện nghiên cứu không đào tạo được know how. Know how nằm ở công ty, xí nghiệp và trước đây là ở các làng nghề. Know how là tri thức công nghệ, là có nghề. Các trường có thể dạy nghề nhưng để trở thành có nghề, để biết cách làm và làm được thì ở trường không đào tạo. Tri thức công nghệ (know how) chỉ có ở các công ty. Cái sự học không thay thế được cho các doanh nghiệp trong việc phát triển công nghệ.

Đấy là quy luật của “nước chảy chỗ trũng”. Nhưng mọi việc sẽ không đơn giản như thế. Khi các nước giàu còn giàu một cách đáng kể và có cách biệt với các nước nghèo thì dòng chảy bình thường. Nhưng khi sự cách biệt dường như bị kéo nhích lại thì tâm lý bảo hộ sẽ làm cho các nước giàu dựng lên hàng rào phi thuế quan để ngăn chặn dòng chẩy ấy mà bản quyền trí tuệ có thể là một ví dụ. Trâu sẽ không húc nhau với nghé chỉ chừng nào nghé còn chưa lớn thành trâu.

Các nước giàu rất trọng tri thức. Cũng có thể vì trọng tri thức mà trở nên giàu có. Trí tuệ là cơ sở để tiếp nhận và ứng dụng tri thức. Trí tuệ của các sắc dân khác nhau trên thế giới không có sự khác biệt lớn, nhưng tri thức của mỗi dân tộc lại rất khác biệt tùy thuộc vào nền giáo dục mà người dân được thụ hưởng.

Theo đại sứ Hoa Kỳ Raymond Burghardt trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ chủ nhật ngày 26.01.2003, Danh Đức ghi lại như sau: “Việt Nam hiện nay là nước nhận học bổng từ chính phủ Mỹ nhiều hơn bất cứ nước nào khác. Thế cho nên, đó là một phần chính mà tôi quan tâm nhằm đảm bảo chương trình này được khởi đầu tốt để tiếp tục triển khai các chương trình trao đổi giáo dục đang ngày càng tăng trưởng. Chương trình trao đổi giáo dục lớn nhất thế giới của chính phủ Hoa Kỳ là ở Việt Nam.” Ông nhận xét tiếp: “Ấn tượng mạnh mẽ nhất của tôi là: Người Việt vẫn thế, nghĩa là họ rất nồng nhiệt và có một óc hài hước rất lớn. Họ có khả năng tìm thấy trong mọi việc, ngay cả những lúc khó khăn, một ý nghĩa hài hước lạc quan. Điều đó làm cho công việc ở đây thật thú vị, tôi thích quay trở lại đây. Tôi đã từng công tác ở nhiều nơi nhưng không dễ dàng làm việc ở xứ đó như là ở đây. Một điều khác tôi nhận thấy đó là sự phát triển. Ngày trước, Việt Nam tách biệt với thế giới. Nay, có đầu tư nước ngoài, có nguồn du khách bao la vào thăm, có sinh viên Việt Nam du học nước ngoài, có sinh viên nước ngoài du học tại Việt Nam. Việt Nam nay là một phần của thế giới. Sống ở đây, có thể cảm thấy rõ ràng Việt Nam đang là thành viên của APEC, kết nối với các khu vực của thế giới.”

Trong khi các nước nghèo vẫn giữ được nhịp điệu phát triển nhờ dòng kiến thức từ các nước giàu thì các nước giàu lại cần nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trí tuệ để phát minh kiến thức mới làm nền tảng cho sự phát triển. Nguồn nhân lực trí tuệ này có một phần đến từ các nước đang phát triển. Khi đất nước xuất thân còn quá nghèo những trí thức trẻ thường ở lại nước đã đào tạo họ nếu muốn làm việc trong các ngành khoa học mũi nhọn của thế giới.

Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, giá trị của sản phẩm chính là lượng và chất của lao động được đầu tư cho sản phẩm. Mức độ cơ bản của trí thức là theo kịp, nắm vững được kiến thức của nhân loại, làm giàu thêm kiến thức của nhân loại. Những sáng chế đầu tiên, đặt nền móng cho công nghệ luôn là những sáng chế ở mức cao. Đây là sáng chế gốc. Dần dần mức sáng chế giảm đi. Tuy nhiên điều cần lưu ý là, những sáng chế ở mức cao chưa đem lại lợi nhuận. Công nghệ lúc đó mới chỉ nằm trên giấy hoặc mới có vài mẫu chế thử, lợi nhuận của giai đoạn này thường là âm.

Khi công nghệ hoàn tất, được đem bán rộng rãi, lúc này các thủ thuật dùng để giải quyết các vấn đề thuộc phần ngọn. Điều thú vị là một sự hoàn thiện không lớn cũng đem lại lợi nhuận cao. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những sáng chế của những công ty nhỏ và của những người không có học vấn cao. Nhưng chính đây là nơi phát sinh mâu thuẫn trong quan niệm về quyền sở hữu trí tuệ. Không phải một lần tính pháp lý, tính đạo lý và tính khả thi lại có dịp được phân tích, so sánh, tranh cãi.

Nhưng nước giàu, những nước đi tiên phong trong kinh tế tri thức, đang đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu phần gốc, phần cơ bản. Và cũng có thể vì thế, họ vẫn đang giữ được vị trí tiên phong. Còn các nước nghèo thường chỉ đủ lực đầu tư cho ứng dụng, phần thu lợi được ngay, tức là phần ngọn.

Có gốc thì vững chắc, có ngọn thì mới vươn cao. Nói một cách khác nghĩa là không nên chỉ chú trọng ứng dụng nhưng cũng không nên quá đặt nặng cơ bản. Trong tình trạng của một nước nghèo, quá cơ bản chẳng khác nào gạo đầy kho mà vẫn đói bụng vì coi việc nấu cơm mà ăn là tầm thường quá không cần làm.

30.2 Toàn cầu hóa không gian phát triển

Hiện nay có một số đông các nước giàu và còn nhiều nước nghèo. Các nước nghèo là không gian mới cho sự phát triển của thị trường. Khi dòng vốn, dòng khoa học kỹ thuật và công nghệ được rót sang các nước nghèo thì các nước giàu cũng đang tự cứu mình. Giống như cây trồng trong chậu kiểng nay được trồng ra đất. Bộ rễ cây khi trồng ra đất có vùng không gian rộng lớn hơn nhiều để phát triển.

Giá vốn ở các nước nghèo thường cao hơn giá vốn ở các nước giàu. Đây là một cứu cánh cho đồng vốn bị ứ đọng trong các ngân hàng các nước giàu và cũng là một cứu cánh cho các nước nghèo. Cuối năm 2002, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình, ngành ngân hàng Việt Nam có lãi gộp tăng 100% so với năm trước đó. Đây cũng đúng vào thời điểm FED hạ lãi suất chỉ còn 1,5% cho các ngân hàng Mỹ. Kết quả là lãi suất tính theo đôla của các ngân hàng Việt Nam chỉ còn trên 3% một chút, cũng là thấp nhất trong lịch sử ngân hàng Việt Nam, nhưng vẫn gấp đôi lãi suất của FED. Đây là cơ hội bằng vàng để đầu tư phát triển. Vấn đề còn lại là ai sẽ tận dụng được cơ hội ấy.

Thị trường công nghệ các nước giàu gần như bão hòa, chỉ các công ty rất mạnh về công nghệ mới có thể phát triển. Các nước nghèo trong tình hình đó vẫn có thể mua các thiết bị kém tiên tiến hơn một chút, ít tự động hóa hơn, nhưng vẫn tốt trong hoàn cảnh dư thừa lao đông, làm cho những công ty mang tính cạnh tranh yếu hơn tại các nước giàu vẫn còn đất phát triển. Dân các nước nghèo cũng rót một số tiền lớn sang các nước giàu để con em của họ được học tập trong một môi trường tiên tiến, làm mở rộng thị trường đào tạo tại các nước giàu.

Thị trường quản trị tại các nước nghèo cũng thu hút một đội ngũ chuyên gia về quản trị hàng đầu sang làm việc, góp phần làm giảm mức thất nghiệp của các chuyên viên cao cấp ngay tại các nước giàu có. Đấy là chưa kể, một số chuyên gia còn có mức thu nhập cao hơn là khi làm việc tại chính nước của họ.

Thị trường Sách báo, khoa học và giáo dục cũng tìm được thêm thị trường của mình. Các trường nổi tiếng có thể mở thêm chi nhánh hay liên kết để đào tạo tại các nước nghèo theo ngang trình độ của các nước tiên tiến.

30.3 Sự va chạm các nền văn minh

Có tri thức là có hiểu biết. Có bốn trụ cột của tri thức đó là để biết, để làm, để chung sống và để tự khẳng định. Trong bốn trụ cột ấy có hiểu biết để chung sống là khó khăn nhưng quan trọng nhất. Công nghệ thông tin phát triển trong tình hình thế giới phân hóa giàu nghèo cao làm cho tương phản thêm rõ nét và đập vào mắt mỗi ngày.

Trong cuộc hội thảo “Việt Nam: sẵn sàng gia nhập WTO” tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 6 và 7-6-2003 đại diện thương mại của Tổng lãnh sự Mỹ đã đứng lên tại diễn đàn phát biểu rằng: “Có thể Mỹ là một đối tác hay bị hờn dỗi nhất, nhưng sau hơn một năm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ thì Việt Nam vẫn bán hàng sang Mỹ nhiều gấp mấy lần Mỹ bán sang Việt Nam. Nói tóm lại, có rất nhiều nước xếp hàng vào WTO mà không ai xếp hàng để ra cả.”

Để đảm bảo thu nhập cho nông dân của mình cân bằng với khối công nghiệp, với lý do bảo đảm an toàn lương thực thực phẩm, hàng ngày các nước giàu tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp của mình 1 tỷ đôla Mỹ. Một nửa ngân sách EU là dùng để trợ cấp nông nghiệp. Điều này không có lợi nếu không muốn nói là không công bằng cho các nước đang phát triển. Theo đánh giá của Oxfarm, EU và Mỹ đã xuất khẩu nông sản với trị giá chỉ bằng 1/3 giá thành. Ngày nay nước Mỹ tiếp tục tăng cường trợ giá hàng nông sản. Cho nên, theo những hứa hẹn tại vòng đàm phán sắp tới, dù chưa phải là những hứa hẹn tốt đẹp nhất của các nước giàu với các nước đang phát triển, nông nghiệp sẽ là chủ đề hàng đầu của các vòng đàm phán thương mại.

Oxfarm cho biết hầu hết các nước giàu tuy cam kết thực hiện nhiều nguyên tắc tự do thương mại nhưng vẫn luôn áp đặt thêm những hàng rào thuế quan hay những hạn chế khác. Trong khi các nước có nền công nghiệp phát triển hô hào tự do thương mại, thì cũng tại ngay các nước này giá biểu thuế quan đánh vào nông sản ngoại nhập chiếm 40-50% giá thành nếu so với hàng công nghiệp là 4%.

Trước câu hỏi WTO có phải là một sân chơi công bằng không khi mà Mỹ đặt ra thuế nhập khẩu cao để bảo hộ sản phẩm thép của mình và lại còn cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá ba sa một cách phi lý! Chuyên gia tư vấn của Ngân hàng thế giới Pierre Sauve có một cách giải thích như sau: “Thưa các bạn, cuộc sống vốn không công bằng. Vào ngày 1-1-2006 nếu Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì cuộc sống vẫn tiếp tục là không công bằng. Nhưng dù thế, cuộc sống vẫn là một cơ hội lớn, WTO vẫn là một cơ hội lớn. WTO có thể là một cái lều lớn trong đó kẻ có chỗ ngồi, kẻ thì không nhưng bạn sẽ phải lựa chọn liệu bạn nên đứng bên ngoài chịu thời tiết giá lạnh hay bước vào bên trong?”

Báo Newsweek có bài bình luận về “trận chiến” cá da trơn xin trích như sau: “Tôi bước vào cửa hàng cá tìm mua thức ăn gì “lành” cho bữa ăn tối. Bất thình lình tôi thấy mình như đang rơi vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Như đa số người Mỹ, khi mua sắm tôi quan tâm chủ yếu đến giá cả. Với 2,99 USD tôi mua được một cân cá da trơn của Việt Nam, trong khi mua cá nuôi ở miền Nam Hoa Kỳ phải trả đến 3,99 USD cũng cho một cân. Với giá đó, tôi chọn cá của Việt Nam. Dường như đó là cách thức kinh doanh cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Thế nhưng, những nhà tư bản đang nắm chính quyền ở Mỹ lại tin điều ngược lại, trong khi họ không ngừng ca ngợi “thị trường tự do”.

Rào cản thương mại, do các nước công nghiệp phát triển áp đặt, mỗi năm lấy đi khoảng 650 tỷ USD của thế giới. Số tiền này có thể dùng cho việc cải thiện cuộc sống của con người và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường thế giới ở những nước nghèo. Đó là nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB), được công bố hôm 23-9-2002.

Cũng theo công trình nghiên cứu do WB và IMF cùng tiến hành, trợ cấp và thuế quan đánh vào các sản phẩm nông nghiệp và may mặc gây ra tổn thất nhiều nhất. Dự kiến đây sẽ là chủ đề trong cuộc thảo luận tại cuộc họp thường niên của hai thể chế tài chính lớn nhất thế giới này. Đối với Mỹ và Canada, thuế quan chủ yếu đánh vào mặt hàng dệt và may mặc, còn tại Châu Âu và Nhật Bản là hàng nông sản và giày dép, hãng Reuters cho biết. Bên cạnh thuế, chính sách bảo hộ ngành nông nghiệp ở các nước OECD, hạn ngạch về hàng dệt, may mặc và những quy định ngặt nghèo giữa các nước đang phát triển cũng ảnh hưởng đáng kể đến thương mại quốc tế.

Cũng theo bản báo cáo, rào cản thương mại áp đặt lên thị trường nông nghiệp lớn nhất và chịu tác động nhiều nhất bởi ¾ người nghèo trên thế giới sống ở khu vực nông thôn. Họ hầu như phụ thuộc vào nông nghiệp. Quan chức WB và IMF đặc biệt quan ngại về trợ cấp ngành nông nghiệp của Mỹ và EU. Ngân hàng thế giới cũng vừa thành lập một phòng theo dõi các hoạt động thương mại. IMF hy vọng sẽ hợp tác với Tổ chức Thương mại thế giới để vạch ra những vấn đề gây tổn hại đến thương mại toàn cầu trong các chính sách thương mại của các nước giàu.

Tháng 5-2002, Tổng thống Mỹ George w.Bush đã ký một dự luật nông trại trị giá 51,7 tỷ USD kéo dài trong 6 năm. Những đối tượng được hưởng lợi theo dự luật này bao gồm nhiều nhà sản xuất ngô, kê, lúa mạch, tương đỗ, các loại hạt lấy dầu, bông, gạo của nước này. Theo một nghiên cứu ngành bông sợi, WB và IMF cùng đưa ra kết luận, nếu Mỹ bãi bỏ quy định trợ cấp ngành bông thì giá cả sẽ tăng khoảng 25-30% chỉ trong một thời gian ngắn và kim ngạch xuất khẩu của các nước Tây và Trung Phi sẽ tăng khoảng 250 triệu USD. Những rào cản về ngành hàng may mặc cũng đáng bàn. Theo báo cáo, việc xây dựng những nguyên tắc thương mại về ngành may mặc ở những nước phát triển khiến 20 triệu người ở các nước đang phát triển thất nghiệp. Do vậy, để tự do hóa thị trường thế giới thì lãnh đạo các nước cần phải bắt tay ngay để giải quyết.

Cũng theo Reuters, WB và IMF cũng khuyến cáo rằng những nước đang phát triển vẫn chưa sẵn lòng tự do hóa, nên các nước giàu cần có những chính sách hỗ trợ cùng với những điều chỉnh thích hợp. Tự do nông nghiệp quá nhanh sẽ làm thiếu hụt nguồn cung lương thực ở một số khu vực. Và việc dở bỏ hạn ngạch hàng dệt và may mặc sẽ tạo ra bất bình đẳng giữa các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển.

Có lẽ không nên bàn đến việc ai đúng ai sai nữa, bởi vì vấn đề là, khi hàng hóa của chúng ta mới chiếm được một thị phần nhỏ bé, chưa làm cho đối thủ cạnh trạnh cảm thấy bất an thì còn được để yên. Như vậy, các loại nông sản hiện là thế mạnh như cà phê, tiêu, tôm sú… phải chuẩn bị sẵn chứng cứ và tinh thần để hầu kiện, và làm quen với “não trạng ưa kiên tụng” của kinh tế Âu Mỹ. Đây cũng là biểu hiện của chính sách luôn đứng về phía doanh nghiệp, luôn bảo vệ quyền lợi của những người đóng thuế của chính quyền, một kiển “khách quan” luật định.

Về vấn đề này đại sứ Hoa Kỳ Raymond Burghardt có nhận xét: “Vấn đề catfish, đó chỉ là vấn đề nhỏ trong tổng thể. Cá Catfish chỉ là một phần trong cả một ngành công nghiệp. Nhìn chung thủy sản Việt Nam vẫn tăng xuất khẩu sang Mỹ. Về vấn đề cá catfish, tôi hiểu sự phẫn nộ từ phía Việt Nam. Tôi đã đi thăm những trại nuôi cá catfish ở An Giang, tôi đã ngồi trên xuồng, ăn uống và nói chuyện với các nông dân nuôi cá catfish nên tôi biết họ nghĩ gì. Tôi hiểu chứ. Tôi nghĩ rằng khi các bạn buôn bán với thế giới, với Canada, với EU, với các nước khác… các bạn cũng gặp phải những vụ kiện như thế. Có khi các bạn thắng kiện, có khi các bạn thua kiện”.

Là con dân của một nước còn nghèo khi di ra thế giới là còn bị bắt nạt. Ngày 23-7-2003, Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (USITC) đã bỏ phiếu tán thành quyết định của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) cho rằng doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ. Như vậy, DOC sẽ áp thuế chống bán phá giá lên sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam, với mức rất cao, từ 36,84 đến 63,88%, kể từ ngày 7-8-2003. Dân ta ưa “mánh”, dân Tây ưa “bài bản”. Vụ kiện cá basa bán phá giá vào Mỹ là bài học để các doanh nghiệp Việt Nam hiểu được thế nào là “mánh” một cách “bài bản”. Như vậy, doanh nghiệp phải hành xử ra sao để ít thiệt hại nhất từ cuộc chiến thương mại toàn cầu. Nhiều nước giờ đây đã ý thức rằng vấn đề quan trọng hàng đầu là phải am hiểu luật chơi và chọn cho mình những sách lược khôn ngoan. Điều cần nhấn mạnh ở đây là luật chơi nào cũng chỉ có thể phát huy tối đa hiệu quả khi nó song hành với chính sách ngoại giao khéo léo và một chiến lược phát triển kinh tế đa dạng, ổn định và bền vững.

Theo Oxfarm, thực tế cho thấy việc mở của thị trường và tăng mức sống của người dân không phải lúc nào cũng đi song song. Ví dụ có thể thấy là ở một số nước hội nhập thành công vào thị trường thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan đã không tự do hóa thị trường một cách ồ ạt.

Toàn cầu hóa là quá trình tăng cường sự lệ thuộc lẫn nhau. Trong bài viết đăng trên tạp chí của Nhóm 77 (Journal og the Group of 77) phát hành tại trụ sở của LHQ ở New York, chủ tịch Nhóm 77, Mohamed Bennuma, đã cảnh báo khoảng cách lớn đến mức nguy hiểm giữa các nước nghèo và các nước giàu trên thế giới. Để đáp ứng việc phát triển kinh tế, các nước nghèo hàng năm cần khoảng 100 tỷ USD viện trợ từ các nước giàu. Con số này tuy chẳng thấm vào đâu so với những thiệt hại do các nước giàu gây ra cho các nước nghèo dưới dạng bảo hộ thương mại bất công, thuế, nợ nần quá cao… nhưng các nước giàu lại không làm những điều đó.

Kinh tế yếu kém, sự sa sút của một bộ phận xã hội so với phần còn lại của thế giới chính là mảnh đất màu mỡ cho các xung đột sắc tộc mà sắc tộc hoặc tôn giáo hay gì đó đi nữa chỉ là cái cớ cho sự bùng nổ. Nhất là khi đụng chạm giữa một nước giàu và mạnh cả về kinh tế và quân sự với một nước nghèo nhưng đã từng là một trong những trung tâm văn minh nhân loại, trong tình huống mà lịch sử còn lưu lại dấu ấn của nó, thì cuộc đụng đầu không chỉ đơn giản là mạnh được yếu thua. Cho nên, Michel Malberbe nhận xét: “Ngưỡng chịu đựng để căng thẳng xã hội không bùng nổ rõ ràng phụ thuộc vào những so sánh mà dân chúng có thể nhận thấy giữa hoàn cảnh sống của họ và hoàn cảnh sống của những người có đặc quyền, đặc lợi ở trong nước hay ở nước ngoài.” Một cách hiểu khác: “Nghèo đói và bất bình đẳng là cái gốc của tai họa mà nạn cướp bóc hay khủng bố chỉ là biểu hiện của nó”.

Dù toàn cầu hóa có mang lại lợi ích gấp hàng trăm lần cho các nền kinh tế hơn là những tiêu cực phát sinh. Nhưng phong trào chống toàn cầu hóa vẫn phát triển bởi vì trong quá trình thương thuyết, đại diện của các nước giàu chưa biết cách nhân nhượng một cách hợp lý cho các đồng loại kém may mắn của họ. Các nước giàu thường có những tiêu chuẩn kỹ thuật rất bài bản, chỉ luật sư mới hiểu và nắm vững được, nhưng trong nhiều trường hợp thực chất lại được sử dụng như là một rào cản để khống chế hàng hóa từ các nước nghèo. Trong những trường hợp đó các nước nghèo nếu chỉ dùng lý thì không thể thắng được.

Nguyên nhân va chạm có thể là do người ta không phải ai cũng có được sự hiểu thấu đáo về cái lý lẽ rằng: “Cùng là chúng sinh nhưng được hưởng lợi nhiều hơn thiên hạ cái lộc của trời đất thì cũng đã là tội lỗi rồi”.

30.4 Vị thế doanh nhân trong lịch sử

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Giới doanh nhân Việt Nam quả là không có được một bề dày lịch sử vì sinh thành từ một xã hội truyền thống bao đời lấy nông làm căn bản, lấy làng xã làm tế bào.

Ớ nước ta việc buôn bán bị coi thường, miệt thị với hình ảnh “thằng bán tơ” đê tiện trong Truyện Kiều hay những nhân vật lái buôn trong truyện Con mụ Lường Đồng tiền Vạn lịch. Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút kể chuyện Thăng Long hồi cuối thế kỷ 18 khi nói đến sinh hoạt bán buôn ở kinh kỳ chỉ rặt nói đến chuyện lừa đảo và ăn cắp, tựa như câu thành ngữ mỉa mai “thực thà như thể lái buôn”. Tác giả theo cha mẹ lên kinh kỳ sống từ tấm bé nhưng trong văn chương luôn chỉ ngợi ca lối sống hương thôn coi khinh thành thị, coi rẻ nghề buôn như số đông lớp nho sĩ cùng thời. Chỉ có một người là nhà bác học Lê Quý Đôn để lại cho đời một câu danh ngôn “Phi thương bất phú, phi nông bất ổn, phi công bất hoạt, phi trí bất hưng”.

Công cuộc Duy Tân đầu thế kỷ 20 lấy thực nghiệp cùng với tinh thần học hỏi làm hạt nhân cho tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam. Các hội buôn ra đời, nhiều nhà nho dứt bỏ những tư tưởng thủ cựu để “đi buôn cứu nước”. Chính Minh Tân công nghệ xã là doanh nghiệp hỗ trợ cho phong trào Đông Du ở Nam Kỳ. Công ty nước mắm Liên Thành mở trường tư thục Dục Thanh ở Phan Thiết và hỗ trợ cho cuộc lên đường của Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc), và các thương hiệu như Hồng Tân Hưng, Đồng Thanh Xương, Nam Đồng Hương… đều có mặt trong các trang sử chép về công cuộc Duy Tân của đất nước. Các tấm gương tiên phong trên thương trường như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, Nguyễn Sơn Hà… với cuộc cạnh tranh với giới doanh nghiệp thực dân và ngoại kiều đang được thế hệ chúng ta soi lại như một cách thể hiện tinh thần yêu nước của người xưa.

Chính với cách nhìn nhận như vậy mà ta có thể đọc lại trang di cảo của nhà yêu nước nổi tiếng, cụ cử Lương Văn Can, sự nhận định chính xác về những hạn chế của người Việt Nam khi bước vào thương trường, những điều mà hôm nay ngẫm lại vẫn thấy gần gũi và thấm thía

Trong sách Thương học phương châm, vị hiệu trưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục đã phân tích rằng: “Cổ nhân thường khinh sự buôn bán là mạt nghệ, bởi vì người xưa trọng đạo đức mà khinh công lợi, thấy người buôn tham lợi, ít có nói thực, sợ mất cái lòng đạo đức đi” mà xa lánh. Cụ Lương Văn Can đã đưa ra 10 nguyên nhân làm cho giới doanh nhân của ta không phát triển, tóm tắt là:

– Người mình không có thương phẩm;

– Không thương hội;

– Không có nghị lực;

– Không biết trọng nghề;

– Không có thương học;

– Kém đường giao thiệp;

– Không biết tiết kiệm;

– Khinh hàng nội hóa…

Tầm nhìn và ý chí của những doanh nghiệp và doanh nhân tiên phong kể ra ở trên đáng để ta kính trọng và tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu lần đầu trở về thủ đô nước Việt Nam độc lập, đã chọn ở tại nhà một trong những người giàu nhất Hà Nội: nhà của gia đình tư sản Trịnh Văn Bô ngay tại 48 phố Hàng Ngang. Rồi chỉ nửa tháng sau ngày độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp các nhà công thương Hà Nội tại Bắc Bộ phủ và phát động Tuần lễ vàng với lời kêu gọi các nhà công thương cùng đồng bào cả nước “tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đã đồng lòng giúp nước” như thế nào. Kết quả của Tuần lễ vàng chính là lời tuyên ngôn của doanh nhân Việt Nam sẵn sàng phụng sự cho sự nghiệp cách mạng, gắn kết lợi ích của mình cho lợi ích dân tộc, đúng như lời Bác Hồ đã viết trong lời chúc mừng nhân ngày thành lập Công thương Cứu quốc đoàn: “Việc nước, việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là cái sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”.

Trải qua nhiều thăng trầm do chiến tranh và do những sai lầm, hạn chế về nhận thức, doanh nhân chưa có vị trí tương xứng trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước đang đặt doanh nhân vào đúng vị trí xứng đáng của họ khi toàn đảng đang phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Nếu thế kỷ 20, nhân vật trung tâm của lịch sử giải phóng dân tộc là những nhà cách mạng và những người lính thì chắc chắn thế kỷ 21 này, nhân vật trung tâm của sự nghiệp xây dựng và đổi mới phải là những người biết làm cho đất nước giàu mạnh, và trong đội ngũ ấy doanh nhân phải là những người tiên phong hiểu theo nghĩa là những người “đứng mũi chịu sào” dũng cảm.

31.HIỆP ĐỒNG

Muốn tăng hiệu quả cạnh tranh tương đối thì phải làm ăn lớn. Muốn làm ăn lớn phải hiệp đồng. Vậy mà theo Lê Văn Tứ, tâm lý doanh nhân Việt còn nặng tin mình hơn tin người, không an tâm bỏ vốn và phó thác cho người khác quản lý. Đây cũng là một thực tế lịch sử. Tính tới những đặc điểm trên, nên chăng con đường tập trung vốn khả dĩ ở nước ta hiện nay là hình thành các tổng công ty dân doanh.

Hình ảnh quen thuộc về vài chục giám đốc của một công ty Hồng Kông hay Đài Loan cùng động thổ hay cắt băng khánh thành một công trình xây dựng cho thấy đây là một hình mẫu. Trong các tổng công ty này, các công ty thành viên vẫn giữ tư cách pháp nhân độc lập, và nhiều thành viên là một công ty quy mô gia đình, doanh nghiệp tư nhân. Nhưng công ty nhỏ này lại liên kết với nhau rất chặt chẽ vì có pháp nhân chung và có sự điều hành chung của tổng công ty, mục đích là để cùng thực hiện những hoạt động kinh doanh mà chỉ có lực lượng nhiều công ty mới kham nổi.

Sinh thái học là một thuật ngữ chỉ sự hiệp đồng trong thiên nhiên có thể dùng để mô tả các mối quan hệ trong xã hội. Môi trường là thuật ngữ mượn từ sinh thái học được dùng để chỉ những điều kiện sống không chỉ trong thiên nhiên mà cả những điều kiện sống trong xã hội. Cũng giống trong tự nhiên, trong cuộc sống xã hội mọi cái đều liên quan đến cái khác. Mối quan hệ của từng bộ phận cũng là nguồn sức mạnh để tạo ra nếp văn hóa hiệp đồng trong nội bộ gia đình hay tổ chức. Nghịch với hiệp đồng là một chiều, là chỉ quan tâm đến mối lợi cho mình không quan tâm đến quyền lợi của đối tác.

Trả lương theo thâm niên dựa trên đóng góp trong quá khứ, gần như là “sống lâu lên lão làng”, không theo năng lực hiện tại, kết hợp một cách khéo léo kinh nghiệm và uy tín của những người đi trước vói tính năng động sáng tạo của thanh niên, người Nhật trọng cái tâm hơn tất cả các đức tính khác. Không quá đòi hỏi cho cái tôi của mình trong việc phân tích và giải quyết các công việc chung, khi sự tham gia của cá nhân càng chính đáng, càng chân thành, càng bền bỉ thì tính sáng tạo của mỗi người càng được giải phóng, sự ràng buộc với những cái sáng tạo được càng lớn.

Đó chính là cái tinh thần của Khổng Tử theo cách hiểu hiện đại, là bản chất sức mạnh của cách tiếp cận Nhật Bản trong kinh doanh đã làm biến đổi cả thị trường thế giới.

Khi chỉ thấy hai giải pháp- Giải pháp của mình và giải pháp “SAI” – hãy cố gắng tìm một giải pháp hiệp đồng thứ ba. Với phương châm cùng có lợi hầu như khi nào cũng có một giải pháp thứ ba.

Để làm việc được với nhau phải có nhân duyên. Hiệp đồng trước tiên phải bắt nguồn từ trong thâm tâm ngay cả giữa một môi trường rất đối địch.Tôn trọng và không được xúc phạm đến nhân phẩm cá nhân. Khéo léo né tránh những sức mạnh tiêu cực. Tìm ra cái đúng của đối tác và sử dụng cái đúng đó theo cách có lợi nhất, tôn trọng sự khác biệt để nâng cao quan điểm và mở rộng tầm nhìn của mình.

Nhật Thủy có bài “Bài học từ loài ngỗng” dịch từ Internet nội dung như sau:

“Vào mùa thu, khi bạn thấy bầy ngỗng bay về phương nam để tránh đông theo hình chữ A (chữ V ngược), bạn có tự hỏi những lý lẽ khoa học nào có thể rút ra từ đó. Mỗi khi một con ngỗng vỗ đôi cánh của mình, nó tạo ra một lực đẩy cho con ngỗng bay ngay sau nó. Bằng cách bay theo hình chữ A, đàn ngỗng tiết kiệm được 71% sức lực so với khi chúng bay từng con một.

Khi là thành viên của một nhóm, người ta cùng chia sẻ những mục tiêu chung, người ta sẽ đi đến nơi họ muốn nhanh hơn và dễ dàng hơn vì họ đang đi dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.
Mỗi khi có một con ngỗng bay lạc khỏi hình chữ A của đàn, nó nhanh chóng cảm thấy sức trì kéo và những khó khăn của việc bay một mình. Nó sẽ nhanh chóng trở lại đàn để bay theo hình chữ A như cũ, và được hưởng những ưu thế của sức mạnh từ bầy.
Nếu chúng ta cũng có sự cảm nhận tinh tế của loài ngỗng, chúng ra sẽ chia sẻ thông tin với những người cũng đang hướng đến cùng một mục tiêu như chúng ta.
Khi con ngỗng đầu đàn mỏi mệt, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cánh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu.

Chia sẻ vị trí lãnh đạo sẽ đem lại lợi ích cho tất cả, và những công việc khó khăn nên được thay phiên nhau đảm nhận.Tiếng kêu của bầy ngỗng từ đằng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng.

Những lời động viên sẽ tạo nên sức mạnh cho những người đang ở đầu con sóng, giúp họ giữ vững tốc độ, thay vì để họ mỗi ngày phải chịu đựng áp lực công việc và sự mệt mỏi triền miên.

Cuối cùng, khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương và rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đến chừng nào con bị thương lại có thể bay hoặc là chết, và khi đó chúng sẽ nhập vào một đàn khác để tiếp tục bay về phương nam.

Nếu chúng ta có tinh thần của loài ngỗng, chúng ta sẽ sát cánh bên nhau khi khó khăn. Lần sau có cơ hội thấy một đàn ngỗng đang bay trên bầu trời, bạn hãy nhớ: Bạn đang hưởng một đặc ân khi là thành viên của một nhóm”.

32.THẮNG –THẮNG

Đánh mà thắng là hạ sách. Không đánh mà thắng mới là thượng sách.

Binh pháp Tôn Tử

“Thương trường là chiến trường”, nhưng thương trường khác chiến trường rất căn bản. Chiến trường về danh định thì có bên thắng bên thua, nhưng tính cho đúng bản chất thì trong cuộc chiến các bên đều thua. Làm ăn trên thương trường thì khác, đây là quá trình hiệp đồng hai chiều mà các bên đều thắng, không có bên nào thua cả. Làm ăn là một cuộc chiến mà các bên đều được hưởng lợi, tức là cùng có lợi. Trong làm ăn chỉ có đối tác, không có đối đầu. Câu cửa miệng của Tào Tháo là : “Binh bất yếm trá” – đánh nhau không ngại lừa dối, nhưng đấy là trong quân sự. Cách hành xử trong kinh doanh thì ngược lại: “Khôn ngoan chẳng rọ thật thà”. Làm ăn lắt léo cách mấy cũng không thể nào hay bằng làm ngay, nói thật.

Không có cạnh tranh tuyệt đối và cũng không có liên kết tuyệt đối. Trong liên kết luôn có cạnh tranh và trong cạnh tranh luôn có liên kết. Thắng – thắng là tư tưởng mang tính chiến lược có nghĩa là cả hai bên cùng thắng. Ngược với thắng – thắng là thắng – thua. Tư tưởng thắng – thua luôn quy chụp muốn mình dành lợi thi đừng có lo cho ai đó bị thiệt, cũng như nếu người đó hưởng lợi chắc là phải bòn rút đâu đó. Cái logic ăn thua đó làm nảy sinh tâm lý đố kỵ: “Giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh không sài”.

Thắng – thắng là kết quả của việc liên kết một cách bền vững để đạt đến 1 + 1 = 3 và còn hơn thế nữa. Đây là triết lý để đạt đến sự liên kết cùng có lợi. Không được phép để đối tác bị thua thiệt trong mối quan hệ với mình. Liên kết một cách bền vững là phép nhân năng lực của các thành viên. Kim Woo Choong viết: “Điều đáng nói ở đây là ở tầm quan trọng trong việc bảo vệ và giữ vững mối quan hệ trong kinh doanh – bạn hàng sống thì chúng ta cũng sống. Do vậy tôi chợt khám phá ra một nguyên tắc quan trọng trong kinh doanh lâu dài: giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính bản thân mình”. Điều này cũng có nghĩa là không nên quá mong đợi vào sự hảo tâm của bạn bè nhất là bạn tốt vì họ cũng còn phải bảo vệ lợi ích của họ. Cho nên nếu đối tác bị thiệt hai thì sớm hay muộn ta cũng sẽ bị thiệt hại liên đới.

Advertisements