Hafid nghiêng người trước tấm gương đồng sáng bóng, chăm chú quan sát gương mặt của mình phản chiếu trên đó.
“Chỉ có đôi mắt là còn phản ảnh tuổi trẻ”, ông tự nói với mình và rồi quay ra đi chầm chậm dọc theo hành lang dài bằng đá cẩm thạch xanh biếc. Hafid đi giữa hai hàng cột đá đen bóng vươn lên đỡ lấy vòm mái trang trí lộng lẫy với hoa văn bằng bạc và vàng, đôi chân nặng nề vì tuổi tác đưa ông đi qua những chiếc bàn gỗ bách chạm khảm với ngà voi.
Khắp nơi, trên tường, trên các ghế dài, phản gỗ đều được trổ khảm bằng các loại vỏ trai sò quý hiếm điểm xuyết bằng đá quý thành hình các hoa văn tuyệt mỹ. Những cây cọ lớn vươn lên từ một hồ nước đáy bọc đồng với những vòi nước tạo hình các dã thần cũng được cẩn đầy đá quý. Không một ai khi đến lâu đài của Hafid lại có thể nghi ngờ gì về sự giàu có quá mức của ông ta.
Người đàn ông già bước qua khu vườn trong nhà, đi vào khu nhà kho rộng lớn. Erasmus, người quản lý đã chờ sẵn ở ngay lối vào.
“Chào mừng ông, ông chủ.”
Hafid gật đầu, vẫn tiếp tục bước đi. Erasmus đi theo, mặt không hề biểu lộ chút cảm xúc hay thắc mắc nào về việc gặp mặt ông chủ của mình tại nơi này, vào lúc này. Hafid ngừng lại nhìn những dẫy hàng hoá được xếp thành từng hàng thứ tự.
Nào là len, tơ lụa, mật, da thuộc, thảm và dầu thơm từ Trung Đông; thủy tinh, chà là, cọ dầu, hạt dẻ từ Damacus – quê hương của ông ; vải vóc, thuốc men từ Palmyra ; gừng, quế, đá quý từ Ả Rập ; bắp, giấy, đá hoa cương, đá trắng, đá xanh, đá đỏ từ Ai Cập ; tấm trải từ Babylon ; tranh từ La Mã và tượng từ Hy Lạp. Mùi của hạt dẻ ngập tràn trong không khí và cái mũi già nua nhưng vẫn nhạy cảm của Hafid còn phân biệt được cả sự hiện diện của mùi táo, bơ và gừng.
Cuối cùng ông ta quay lại với Erasmus.”Ông bạn già, tài sản của ta tính ra là bao nhiêu tiền vàng?”
Erasmus nói, mặt hơi xanh: “Tất cả ư, thưa ông.”
“Tất cả”
“Tôi chưa kiểm tra số liệu mới đây nhưng tôi biết là có hơn 7 triệu đồng vàng, thưa ông.”
“Cộng với tất cả hàng hoá ở khắp các cửa hàng và kho ở các nơi thì sẽ là bao nhiêu nữa?”
“Mùa bán hàng năm nay vẫn chưa hoàn tất nhưng tôi tính là ít nhất cũng thêm 3 triệu nữa.”
Hafid gật đầu, “Không mua thêm hàng nữa. Hãy lên một kế hoạch để bán hết mọi thứ còn lại và chuyển tất cả thành vàng.”
Người quản lý há hốc miệng, không nói được tiếng nào. Ông ta hơi lùi ra sau sửng sốt và cuối cùng cũng mở miệng, ông ta nói một cách cố gắng.
“Tôi không hiểu, thưa ông. Năm nay đang là năm lợi nhuận tốt nhất của chúng ta. Sức bán ra của tất cả các cửa hàng đều vượt trội hơn năm ngoái. Ngay cả cư dân của các lãnh địa của La Mã cũng đã trở thành khách hàng của chúng ta. Xin ông thứ lỗi cho sự chậm chạp của tôi, nhưng tôi không thể hiểu được lý do của mệnh lệnh này.”
Hafid cười, nắm lấy tay của Erasmus thân mật.
“Người bạn tin tưởng của tôi ơi ! Ông có nhớ cái mệnh lệnh đầu tiên mà tôi đã ra cho ông khi ông mới vào làm việc với tôi từ nhiều năm trước không?”
Erasmus hơi cau mày lại và rồi như bừng tỉnh.”Tôi được lệnh của ông là trích ra hàng năm một nửa số lợi nhuận để phân phát cho người nghèo.”
“Ông đã không cho tôi là một người khùng trong kinh doanh vào lúc đó sao?”
“Tôi đã hết sức lo phiền khi đó, thưa ông.”
Hafid gật đầu,”Và ông đã nhận thấy là sự lo phiền của ông là vô căn cứ?”
“Vâng, thưa ông.”
“Hãy tin vào tôi ông bạn già, cứ thi hành các quyết định của tôi cho đến khi tôi giải thích rõ ràng với ông. Tôi lúc này chỉ là một ông già và các nhu cầu của tôi cũng đơn giản. Kể từ ngày Lisha yêu dấu của tôi mất đi sau nhiều năm hạnh phúc, tôi chỉ mong muốn được phân phát hết tài sản của tôi cho những người còn thiếu thốn trên thế giới này. Tôi chỉ giữ lại vừa đủ cho mình để có thể sống yên cho đến hết quãng đời còn lại. Erasmus này, ngoài việc chuyển đổi thành vàng các hàng hóa còn lại của tôi, ông hãy sửa soạn giấy tờ để chuyển giao các cửa hàng cho những ai đang quản lý chúng. Tôi cũng muốn ông hãy phát cho những người quản lý này, mỗi người 5 ngàn đồng vàng như là một phần thưởng cho những năm tận tuỵ vì tôi và cũng để họ có thể tiếp tục việc buôn bán theo như ý họ muốn.”
Erasmus định nói nhưng Hafid giơ tay lên ngăn lại. “Những mệnh lệnh này làm ông phiền lòng sao?”
Người quản lý già lắc đầu, cố gắng mỉm cười. “Không, thưa ông, tôi chỉ không thể hiểu nổi lý lẽ của ông. Ông nói cứ như là những ngày còn lại của ông có thể đếm được.”
“Đúng là tính tình của ông, ông bạn già. Sự lo phiền của ông là vì tôi chứ không hề vì bản thân mình. Ông không nghĩ một chút nào đến bản thân ông sao, nếu thương quốc của chúng ta không còn nữa?”
“Ông đã coi tôi như một người bạn từ bao nhiêu năm nay, làm sao tôi có thể chỉ nghĩ đến mình thưa ông?”
Hafid ôm lấy người bạn già, trả lời: “Không cần phải vậy đâu. Tôi yêu cầu ông lập tức chuyển 50.000 đồng vàng sang cho chính ông và hãy ở lại với tôi cho đến khi nào lời hứa mà tôi đã tự hứa với mình từ lâu được thực hiện. Khi lời hứa này hoàn tất, tôi sẽ chuyển giao lại toà lâu đài và kho hàng này lại cho ông để tôi có thể sẵn sàng gặp lại Lisha yêu quí của tôi.”
Erasmus chăm chú nhìn chủ nhân của mình, không tài nào hiểu hết những gì vừa nghe. “50.000 đồng vàng, toà lâu đài và kho hàng… tôi không đủ sức đâu…”
Hafid gật đầu: “Tôi luôn đánh giá cao tình bạn mà ông dành cho tôi và xem nó là quí nhất. Những gì mà tôi trao cho ông chỉ là một phần rất nhỏ nhoi so với lòng trung thành bền bỉ của ông đối với tôi. Ông đã hoàn thiện các nghệ thuật sống không phải chỉ cho mình, mà còn cho cả người khác nữa, điểm quan tâm này được đánh giá cao hơn tất cả. Bây giờ tôi yêu cầu ông hãy hết lòng với những mệnh lệnh của tôi. Thời gian là cái quí giá duy nhất mà tôi còn lại, và chúng chỉ còn ít lắm.”
Erasmus quay mặt đi dể che giấu những giọt nước mắt đã trào ra. Ông ta nói, giọng như vỡ ra: “Vậy lời hứa mà ông nói đó là lời hứa gì? Mặc dù chúng ta đã sống như là anh em một nhà nhưng tôi chưa hề được nghe ông nói đến.”
Hafid khoanh tay cười, nói: “Tôi sẽ gặp lại ông bạn khi nhiệm vụ cuối cùng này của ông đã hoàn tất. Và tôi sẽ cho ông biết cái bí mật đó, điều mà tôi chưa từng chia xẻ với một ai ngoài người vợ yêu dấu của tôi, từ hơn 30 năm qua.”

Chương II

Và rồi thật nhanh chóng, một đoàn xe được bảo vệ nghiêm ngặt rời khỏi Damascus mang theo các giấy chứng nhận chủ quyền và vàng đến cho những ai đang quản lý các cửa hàng của thương quốc Hafid. Từ Obed ở Joppa đến Reuel ở Petra, từng người quản lý một đều nhận được lời giã biệt và tặng vật của Hafid trong sự im lặng đến mức sững sờ. Cuối cùng, khi đến cửa hàng ở Autipatris, nhiệm vụ được giao của Eramus đã hoàn tất.
Thương quốc mạnh mẽ và rộng lớn nhất một thời đã không còn tồn tại nữa.
Trái tim nặng trĩu, Eramus báo về cho ông chủ của mình biết là các kho hàng nay đã hoàn toàn trống rỗng và các cửa hàng một thời là niềm tự hào của Hafid nay đã không còn nữa. Người đưa tin trở lại với yêu cầu của Hafid. Eramus nhanh chóng trở về và gặp lại chủ nhân của mình bên hồ nước trong lâu đài.
Khi gặp lại, Hafid quan sát nét mặt của người quản lý già và hỏi:
“Mọi việc đã xong?”
“Vâng thưa ông, đã xong.”
“Đừng lo buồn, ông bạn. Hãy theo tôi.”
Chỉ có tiếng bước chân của họ dội lên trong căn phòng rộng lớn, trống rỗng khi Hafid dẫn Eramus dọc theo lối đi bằng cẩm thạch xanh dẫn ra phía sau. Đôi khi bước chân của Hafid chậm lại khi đi ngang qua những bình hoa trống rỗng, cô đơn trên các chân đế bằng gỗ cam cao nghệu và ông mỉm cười khi nhìn thấy những tia nắng đang làm cho màu của thuỷ tinh chuyển từ trắng thành tím nhạt.
Rồi hai người bạn già bắt đầu leo lên những bực thang dẫn đến một căn phòng nằm ngay bên dưới mái vòm của lâu đài. Erasmus nhận thấy những người canh gác vẫn thường hiện diện ở đây trong bao năm qua nay không còn nữa. Hai người lên đến tầng giữa, họ tạm ngừng để lấy lại hơi thở đã mất vì những bậc thang quá dài, rồi lại tiếp tục leo lên tầng hai trong im lặng. Đến trước một khung cửa, Hafid lấy ra một cái chìa khoá nhỏ vẫn đeo nơi lưng quần và mở cánh cửa bằng gỗ sồi nặng trịch ra. Ông nghiêng người đẩy cánh cửa mở ra một cách khó khăn và bước vào. Erasmus chần chừ cho đến khi ông chủ của mình yêu cầu ông bước vào, Erasmus thận trọng bước vào trong căn phòng mà từ hơn 30 năm qua chưa từng một ai được cho phép bước vào.
Ánh sáng mờ nhạt len vào từ những khe hở chung quanh mái vòm ở bên trên, Erasmus nắm chặt lấy tay chủ nhân của mình cho đến khi đôi mắt dần quen đi với ánh sáng tù mù trong căn phòng bí mật đó. Với một nụ cười mơ hồ, Hafid nhìn người bạn trung thành của mình đang chậm chạp nhìn quanh căn phòng trống rỗng. Chỉ có một cái rương nhỏ thấp thoáng phản chiếu ánh sáng nằm ở một góc phòng.
“Bạn cảm thấy thấy thất vọng ư, Erasmus?.”
“Tôi không biết nói gì, thưa ông.”
“Ông không thất vọng vì những đồ đạc ở đây ư, ông bạn già. Chắc chắn là những gì chứa trong căn phòng này là một trong những câu hỏi đã được thắc mắc từ lâu. Ông không tự hỏi hay quan tâm đến những gì được cất dấu ở đây dưới sự cảnh giác cẩn mật bao lâu nay sao?”
Erasmus gật đầu: “Thực sự là có. Đã có rất nhiều lời đồn đại trong nhiều năm qua về những bí mật được cất giữ tại đây, thưa ông.”
“Đúng vậy ông bạn. Và tôi đã từng nghe hầu hết những chuyện đó. Họ đồn rằng những thùng kim cương được giấu ở đây, những thỏi vàng hay thậm chí thú hoang hay chim quý được cất giữ tại nơi này. Có lần một tay lái buôn ở vịnh Persik còn cho rằng có thể tôi đang cất giấu một nàng hầu trẻ đẹp tại đây. Lisha đã cười với cái ý nghĩ rằng tôi có thể sưu tầm các cô nhân tình trẻ đẹp. Nhưng bạn ơi, ông thấy đó, chẳng có gì ở đây ngoại trừ cái rương nhỏ đó. Nào bây giờ hãy đến đây.”
Hai người đàn ông cúi xuống bên chiếc rương nhỏ và Hafid từ tốn gỡ những dây da buộc quanh chiếc rương bí mật đó. Ông ta hít sâu vào mùi gỗ cũ ẩm của chiếc rương và cuối cùng ông mở nắp rương lên. Erasmus nghiêng người nhìn qua vai ông Hafid để xem xem có gì trong chiếc rương nhỏ đó. Bên trong chiếc rương chỉ có những cuộn tròn tròn… những cuộn tròn bằng da cũ kỹ.
Hafid lấy ra một cuộn da. Ông nhắm mắt lại ôm cuộn da vào ngực trong chốc lát. Một sự an bình lặng lẽ ánh lên trên gương mặt của ông như làm biến đi những nếp nhăn của tuổi tác. Rồi Hafid đứng thẳng dậy với cuộn da trước ngực.
“Căn phòng này có chấp chiếu hào quang của đá quí không? Không có gì cả, gía trị của nó ở ngay trước mắt bạn trong chiếc rương gỗ đơn giản này. Mọi thành công, hạnh phúc, tình yêu, tự do trong tư tưởng và giầu có mà tôi đã vui hưởng đều đến trực tiếp từ những gì chứa đựng ở đây, trong những cuộn da này. Và tôi nợ chúng cũng như con người khôn ngoan đã tin tưởng và trao chúng cho tôi gìn giữ, một món nợ mà đến giờ tôi vẫn chưa trả được.”
Rung động bởi giọng điệu của Hafid, Erasmus hơi lùi lại: “Có phải đây là điều bí mật mà ông đã nhắc đến? Có phải chiếc rương có quan hệ đến lời thề mà ông đã nói?”
“Câu trả lời là ‘đúng’, cho cả hai câu hỏi của ông.”
Erasmus lau cái trán rịn mồ hôi của mình, nhìn Hafid một cách ngờ vực: “Điều gì ẩn giấu trong những cuộn da đó mà giá trị của nó còn cao hơn cả kim cương, vàng bạc.”
“Ngoại trừ một cuộn, còn lại tất cả đều chứa đựng những nguyên tắc, luật lệ hay sự thật căn bản được viết theo một cách để giúp người đọc hiểu rõ hơn nữa những gì ẩn kín giữa hai dòng chữ của chúng. Để trở thành một bậc thầy trong nghệ thuật bán hàng, một người phải học và thực hành những nguyên tắc được ghi lại ở đây và người đó sẽ có được khả năng để gom góp lấy mọi tài sản trên thế gian này mà hắn ta mong muốn.”
Erasmus nhìn vào những cuộn da, vẻ không mấy tin tưởng: “Ngay cả giàu có như ông ư, thưa ông?”
“Còn hơn là giàu có nữa, nếu hắn ta muốn.”
“Ông đã nói, tất cả những cuộn da này đều ghi nhận những nguyên tắc bán hàng, ngoại trừ một cuộn. Vậy cuộn da đó có những gì trong đó thưa ông?”
“Cuộn da cuối cùng đó, ông bạn có thể gọi nó như vậy, chính là cuộn đầu tiên cần phải đọc. Các cuộn còn lại đều được đánh số tiếp, theo thứ tự. Cuộn đầu tiên này chứa đựng một bí mật mà chỉ những ai thật sự khôn ngoan và được chọn. Cuộn da này, thật sự chỉ dạy cho người ta cái cách hiệu qủa nhất để học và hiểu sâu hơn nữa những gì được viết trong những cuộn da còn lại.”
“Nó có vẻ như là một nhiệm vụ mà bất cứ ai cũng có thể hoàn thành.”
“Quả thế, một nhiệm vụ đơn giản dành cho những ai thật sự ham muốn đạt đến sự hoàn hảo. Những ai thực lòng nỗ lực chỉ cần trả giá bằng thời gian và sự tập trung cao độ cho đến khi từng nguyên tắc một trở thành cá tính của người đó, cho đến khi từng nguyên tắc một trở thành một thói quen trong cuộc sống của người đó.”
Erasmus lại bên chiếc rương, lấy ra một cuộn da. Ông ta cầm nó một cách cẩn trọng trong tay: “Xin tha lỗi cho tôi, thưa ông, nhưng tại sao ông không chia sẽ những nguyên tắc này cho người khác, cho những ai đã làm việc lâu năm trong thương quốc của ông? Ông vẫn luôn chứng tỏ sự hào phóng trong mọi việc, vậy tại sao những người bán hàng cho ông lại không nhận được cơ hội để học những nguyên tắc này và từ đó cũng trở nên giàu có? Và hơn nữa, không tốt hơn sao nếu mọi người đều có thể trở thành một người bán hàng tốt hơn với những hiểu biết giá trị này? Tại sao ông lại giữ lấy những nguyên tắc này cho riêng mình trong bao năm qua?”
“Tôi không được phép lựa chọn. Nhiều năm trước khi tôi được tin tưởng giao phó những cuộn da này, tôi đã lập một lời thề là sẽ chia sẽ chúng với chỉ một người mà thôi. Đến nay tôi vẫn chưa hiểu được tại sao lại có yêu cầu này. Dù sao thì tôi cũng được yêu cầu hãy áp dụng những nguyên tắc này cho riêng mình. Cho đến một ngày, có một người sẽ cần đến sự trợ giúp còn hơn là tôi đã từng cần đến ngày xưa, một người chưa từng biết đến sự hiện hữu của những cuộn da này ở trên đời.
Tôi sẽ được hướng dẫn qua một dấu hiệu nào đó để nhận ra người này, và tôi sẽ trao những cuộn da này lại cho người đó. “Tôi đã kiên nhẫn đợi chờ và trong khi chờ đợi, tôi áp dụng và thực hành những nguyên tắc này như đã được cho phép. Và với những hiểu biết từ những cuộn da này tôi đã trở thành một người bán hàng mà nhiều người gọi là “Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới”, cũng như người đã trao lại cho tôi những cuộn da này đã một thời từng được tôn xưng. Lúc này, ông bạn già, có thể ông đã hiểu tại sao một số quyết định của tôi trong những năm qua có vẻ như khù khờ và vô ích nhưng lại đã chứng tỏ thành công. Các hành động và quyết định của tôi luôn được hướng dẫn bởi những nguyên tắc được ghi nhận trong các cuộn da này. Vì vậy, không phải sự khôn ngoan của tôi đã mang lại tất cả sự giàu có này, tôi cũng chỉ là một công cụ để hoàn thành một công việc nào đó như mọi người mà thôi.
“Erasmus này, ông vẫn còn tin là sẽ có một người rồi sẽ xuất hiện để nhận lấy những cuộn da này sau những năm dài như vậy chứ?…”
“Vâng, thưa ông, tôi tin”
Hafid chậm rãi xếp lại những cuộn da và đóng nắp rương lại. Ông nói nhỏ khi vẫn đang quì trước rương: “Ông sẽ vẫn ở lại với tôi cho đến cái ngày đó chứ, ông bạn già Erasmus?”
Erasmus lặng lẽ với tay nắm lấy tay chủ nhân mình siết nhẹ, gật đầu. Ông ta rời khỏi phòng trong im lặng với yêu cầu không được nói ra với bất cứ một ai từ Hafid. Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới của một thời ràng lại các đai da chung quanh chiếc rương rồi đứng dậy đi về phía một mái vòm nhỏ.
Ông đi qua đó, ra ngoài hàng hiên bao quanh mái vòm. Một làn gió nhẹ từ phương đông thổi lại, táp vào mặt của Hafid, mang theo hương vị của những hồ nước mặn và sa mạc bỏng cháy ngoài xa kia. Ông mỉm cười, đứng trên mái vòm cao nhất của thành Damascus và tâm trí của ông quay lại với nhiều năm trước…

Chương III

Lúc này là mùa đông và cái giá lạnh như càng rét buốt hơn trên đỉnh ngọn đồi của những cây Ô-liu. Từ Jerusalem, xuyên qua hẻm núi hẹp của thung lũng Kidron, thoảng đến mùi khói, nhang và cả thịt da cháy khét từ một đền thờ đâu đây gần đó. Trên một sườn đồi thấp hơn một khoảng so với làng Bethpage, đoàn thương hành của ông Pathros thành Palmyra đang dừng chân tại đó. Lúc này đã trể và ngay cả những con lạc đà cũng đã thôi không nhai những cành hồ trăn nữa mà nằm xuống nghỉ yên bên những bụi nguyệt quế mềm mại.
Bên dãy lều bạt lặng lẽ, những bụi gai dầu quây quanh bốn cây ô liu cổ thụ tạo thành một hàng rào vây lấy đám lạc đà đang chen chúc vào nhau tìm hơi ấm. Ngoại trừ hai người canh gác đang đi dọc theo những dãy xe hàng, chỉ còn có bóng của một người cao lớn là còn chuyển động in lên nền bạt da dê chiếc lều lớn của ông chủ Pathros.
Bên trong, ông Pathros đang đi lại đầy giận giữ, chốc chốc chau mày dừng lại lúc lắc cái đầu với cậu thanh niên đang quỳ ngay lối vào của căn lều. Cuối cùng ông ngồi xuống và vẫy cậu trai đến gần.
“Hafid, lúc nào ta cũng đối xử tốt với ngươi. Ta hoàn toàn bất ngờ và không tin nổi cái yêu cầu lạ lùng của ngươi. Mi không hài lòng với công việc của mi sao?”
Cậu trai chỉ cúi nhìn xuống đất, không dám ngẩng đầu dậy: “Không đâu, thưa ông.”
Ông Pathros nhìn cậu thanh niên chăm chú: “Hay là đoàn lạc đà của ta tăng lên quá nhanh làm nhiệm vụ của ngươi trở nên quá nặng.”
“Không phải vậy, thưa ông.”
“Vậy hãy nhắc lại rõ ràng yêu cầu của ngươi một lần nữa, cả những lý do dẫn đến yêu cầu bất thường đó nữa.”
“Đó chỉ là lòng ham muốn của con, được trở thành người bán hàng cho ông thay vì chỉ là một người chăm sóc lạc đà. Con mong muốn trở thành một người bán hàng như Hadad, Simon, Caled và những người khác, ra đi với đoàn xe nặng trĩu hàng hoá và trở về với những đồng tiền vàng cho ông và cả cho họ nữa. Con muốn cải thiện vị trí của mình trong đời sống. Là một người chăn lạc đà con sẽ chẳng là gì cả, nhưng là một người bán hàng cho ông con có thể đạt được nhiều hơn. Con sẽ có thể giàu có và đạt được thành công.”
“Làm sao ngươi biết như vậy?.”
“Con vẫn thường nghe ông nói, không một nghề nghiệp hay việc buôn bán nào mang lại nhiều cơ hội hơn để một người từ nghèo khó trở nên giàu có cho bằng làm người bán hàng.”
Ông Pathros bắt đầu gật đầu, nhưng ông nghĩ tốt hơn nên tiếp tục tra vấn cậu thanh niên: “thế ngươi có tin là ngươi có đủ khả năng để làm việc như Hadad hay những người khác không?”
Hafid ngẩng lên nhìn ông chủ của mình nói: “Rất nhiều lần con nghe thấy Caled phàn nàn với ông về sự không may của ông ta khi không bán được hàng, và cũng đã nhiều lần con nghe ông nhắc nhở Caled rằng bất cứ ai cũng có thể bán mọi thứ trong kho hàng của ông trong một khoảng thời gian nếu áp dụng chặt chẽ những nguyên tắc và luật lệ của việc bán hàng. Nếu ông có thể tin là Caled, người mà ai cũng cho là khờ khạo, có thể học được những nguyên tắc ấy thì tại sao con lại không thể học được những hiểu biết đó?”
“Nếu ngươi tin là mình có thể thấm nhuần những nguyên tắc đó, vậy đâu là mục đích của… con trong đời sống?” Ông Pathros bắt đầu thay đổi giọng điệu. Hafid hơi chần chừ chốc lát rồi nói: “Việc ông là một người bán hàng vĩ đại nhất thế giới đã được rao truyền trên khắp miền đất này. Cả thế giới này chưa bao giờ có một vương quốc buôn bán nào rộng lớn như thương quốc mà ông đã tạo dựng nên sau bao năm buôn bán. Khát vọng của con là trở thành còn vĩ đại hơn cả ông nữa, người giàu có nhất, và là người bán hàng vĩ đại nhất trên toàn thế giới này.”
Ông Pathros ngả người ra sau quan sát khuôn mặt trẻ trung của cậu bé. Mùi của các con lạc đà vẫn còn đượm trên quần áo của cậu nhưng chỉ có một chút ngại ngùng ẩn hiện trong phong thái. “Vậy rồi con sẽ làm gì với tất cả những thứ đó và với quyền lực đáng sợ chắc chắn là luôn đi theo cùng với sự giầu có đó?”
“Con sẽ làm như ông đã làm. Gia đình con sẽ được cung cấp đầy đủ với những vật dụng tốt nhất và phần còn lại con sẽ chia sẽ với những ai đang còn thiếu thốn.”
Ông Pathros nhẹ lắc đầu: “Sự giàu có, con ơi, không bao giờ nên là mục đích của con người trong đời sống. Con nói rất trôi chảy nhưng chúng chỉ là từ ngữ. Sự giàu có thực sự là ở trong trái tim của con chứ không phải ở túi tiền.”
Hafid chống chế: “Không lẽ ông không giàu hay sao, thưa ông?”
Người đàn ông cười vì sự ương ngạnh của cậu bé: “Hafid ạ! Còn nhiều điều để quan tâm hơn là chỉ sự giàu có vật chất, ở đây chỉ có một sự khác biệt giữa ta trong lâu đài Herod và tên ăn mày hạng bét lê lết ngoài đường. Tên ăn mày chỉ nghĩ đến bữa ăn sắp tới, còn ta thì chỉ nghĩ đến bữa ăn cuối cùng. Không, con trai ơi, đừng khát vọng chỉ vì sự giàu có và cố sức lao động cật lực để được giàu sang. Thay vì vậy, hãy nổ lực vì hạnh phúc, để yêu người và được người yêu. Quan trọng hơn hết là đạt đến sự an bình trong tâm tưởng và tĩnh lặng trong suy nghĩ.”
Hafid tiếp tục phản ứng: “Nhưng những điều này không thể đạt được nếu không có vàng. Ai lại có thể sống an bình trong tư tưởng một khi nghèo khổ? Làm sao một người có thể hạnh phúc khi bụng đói? Làm sao có thể bày tỏ tình yêu với gia đình khi mình không thể nuôi nấng được vợ con? Ông đã từng nói, sự giàu có là tốt khi nó đem lại niềm vui cho người khác. Vậy sao mong muốn được giàu có của con lại là không tốt? Sự nghèo khó có thể là chứng nhân hay một cách sống chỉ dành cho một nhà tu hành trong sa mạc, vì ông ta chỉ có mỗi một Chúa của ông ta để mà phụng sự. Nhưng con, con cho rằng sự nghèo khó là dấu chỉ cho sự yếu kém của năng lực cũng như khát vọng. Con không phải là người thiếunhững phẩm chất đó.”
Ông Pathros cau mày: “Điều gì đã khiến con nẩy lên những khát vọng bất ngờ đó? Con nói về việc nuôi nấng một gia đình, nhưng con chưa có gia đình mà? Con đã không còn gia đình riêng của con nữa kể từ khi trận dịch năm đó cướp mất cha mẹ của con đi, và ta đã nhận nuôi con từ đó.”
Nước da sạm nắng của Hafid cũng không thể nào che giấu được màu hồng đang ửng lên trên hai gò má: “Khi chúng ta dựng trại ở Hebron trước khi lên đường, con đã… đã gặp con gái của Calneh ở đó… cô ta…cô…”
“À…à… sự thật là như vậy đó.” Ông Pathros ngắt ngang. “Tình yêu chứ không phải các lý tưởng sang giầu đã chuyển người chăm sóc lạc đà của ta thành một chiến binh sẵn sàng đương đầu với cả thế giới. Calneh thực sự là một người giàu có. Con gái ông ta với 1 tên chăn lạc đà ư?… Không bao giờ! Nhưng con gái của ông ta với một lái buôn trẻ, đẹp trai, giàu có lại là một vấn đề khác hẳn. Tốt thôi, chàng chiến binh trẻ của ta. Ta sẽ giúp con bắt đầu nghề nghiệp của con, một người bán hàng.”
Chàng thiếu niên sụp xuống chân ông Pathros, nắm lấy gấu áo của ông ta: “Ôi, thưa ông. Con không biết nói gì để cảm ơn ông nữa.”
Ông Pathros gỡ tay chàng trai trẻ ra, bước lùi lại: “Hãy giữ lại những lời cảm ơn đó, con trai. Những gì ta sẽ cho con chỉ là những hạt cát so với những ngọn núi mà con sẽ phải tự mình giành lấy.”
Niềm vui của Hafid bị chặn lại, cậu ngập ngừng: “Thế ông sẽ không dạy con những nguyên tắc và luật lệ để con trở thành người bán hàng vĩ đại hay sao?”
“Không đâu. Sẽ không hơn những gì ta đã làm cho tuổi trẻ của con được yên ổn thong dong bằng những lời dỗ ngọt. Ta đã từng bị chỉ trích vì để con nuôi của mình làm người chăn lạc đà nhưng ta đã nghĩ rằng nếu ngọn lửa đúng đắn bùng cháy trong con thì nó sẽ nhấn chìm hết những lời dị nghị đó… Và một khi nó thực sự bùng cháy, con sẽ là người đàn ông đã trưởng thành từ những năm tháng khó nhọc. Tối nay, yêu cầu của con đã khiến ta cảm thấy hạnh phúc vì ngọn lửa khát vọng lấp loé trong mắt và gương mặt con rạng rỡ vì ham muốn. Điều này là tốt và quyết định của ta cũng đã được chứng tỏ nhưng con, con vẫn cần phải chứng minh, còn những gì nữa sau lời nói của con chứ không chỉ là không khí.”
Hafid im lặng và người đàn ông già tiếp tục: “Đầu tiên, con phải chứng tỏ với ta, và quan trọng hơn nữa là với chính bản thân, con phải thực nghiệm đời sống của một người bán hàng chứ không chỉ dễ dàng như con đã lựa chọn để trở thành. Thực thế, đã nhiều lần con nghe thấy ta nói phần thưởng là to lớn cho một người thành đạt nhưng phần thưởng chỉ to lớn với một vài người thành công mà thôi. Rất nhiều người đã thất vọng và rồi đánh mất chính mình mà không hề biết rằng họ luôn có sẵn những công cụ cần thiết để gặt hái sự giàu sang. Biết bao nhiêu người đã từng đối diện với trở ngại và xem chúng như những kẻ thù địch, trong khi thật ra những trở ngại chính là bạn hữu, là người trợ đỡ. Trở ngại là cần thiết cho sự thành công bởi trong nghề bán hàng, cũng như trong mọi nghề nghiệp quan trọng khác, vinh quang chỉ đến sau vô số nỗ lực. Đúng, mỗi một nỗ lực, mỗi một cố gắng sẽ trau chuốt sự khéo léo và sức mạnh của con, lòng can đảm và sự trải nghiệm của con, khả năng và niềm tin của con và vì thế mỗi một chướng ngại là một người bạn thân thiết thúcđẩy để con trở thành tốt hơn… hay con sẽ bỏ cuộc vì xem những ngăn trở đó là thù địch. Mỗi một lời chối từ sẽ là một cơ hội để tiến lên; quay lưng lại với chúng, từ chối chúng và con sẽ quẳng cả tương lai của mình đi.”
Người tuổi trẻ gật đầu và mở miệng muốn nói nhưng ông già đã giơ tay ngăn lại: “Và hơn nữa, con đã chọn lấy một nghề cô độc nhất trên thế giới này. Ngay cả những người thu thuế rồi cũng trở về nhà khi mặt trời lặn xuống và đế quốc La Mã có những rào chặn để buộc mọi người phải trở về nhà khi đêm tới. Nhưng con, là một người bán hàng, con sẽ phải chứng kiến vô số lần mặt trời lặn và mọc ở xa, thật xa những bạn bè và những người thân yêu nhất của con. Không gì có thể làm cho một người đàn ông đau khổ và cô đơn bằng những lúc chỉ một mình đi ngang một ngôi nhà xa lạ trong bóng tối và chứng kiến cảnh gia đình người ta quây quần ăn uống trong ánh sáng và hạnh phúc.
“Con sẽ phải đối đầu với những khoảng thời gian cô đơn như thế.” Ông Pathros tiếp tục: “Con sẽ phải đương đầu với bao nhiêu khuấy động như thế, những khuấy động sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghề nghiệp của con. Khi con đang trên đường với chỉ những con lạc đà của mình là một cảm giác đáng sợ và xa lạ. Thường thì đôi lúc tầm nhìn và phẩm giá của ta bị lãng quên và ta sẽ xử sự không khác gì những đứa trẻ, chỉ mong muốn sự an toàn và tình yêu cho riêng mình. Biết bao nhiêu người đã phải bỏ ngang giữa chừng, bao gồm cả hàng ngàn người được đánh giá là có khả năng tiềm tàng lớn trong nghề. Và còn hơn nữa, sẽ không có một ai làm cho con cười hay an ủi con khi mà con không bán được một món hàng nào. Không một ai ngoại trừ những người đang tìm cách lấy đi những hàng hóa của con.”
“Con sẽ cẩn trọng và ghi nhớ những cảnh báo này.”
“Nào chúng ta hãy tiếp tục. Lúc này, con sẽ không được nhận thêm một lời hướng dẫn nào nữa. Con đang đứng trước mặt ta như một trái chà là còn xanh. Một trái chà là chưa thực sự chín, vẫn chưa được gọi là chà là và con cũng vậy, khi con chưa thực sự trải nghiệm và hiểu biết, con cũng chưa được gọi là một người bán hàng.”
“Con sẽ phải bắt đầu ra sao?”
“Sáng ngày mai con hãy gặp Silvio tại chỗ các xe hàng. Hắn sẽ trao cho con một chiếc áo dài, loại tốt nhất, không bị nhăn nhàu. Chúng được dệt từ lông dê và có thể chịu được những trận mưa lớn nhất, được nhuộm bằng rễ cây mắm đỏ nên không bị bay màu. Ở bên trong cổ áo, con sẽ thấy có một ngôi sao nhỏ được may vào đó. Đó là nhãn hiệu của Tola, nhà may áo dài tốt nhất. Cạnh bên ngôi sao đó là nhãn hiệu của ta, một vòng tròn trong hình vuông. Cả hai nhãn hiệu này được nhận biết và tôn trọng trên khắp vùng đất này và chúng ta đã bán được rất nhiều, một con số không thể đếm được, loại áo này. Ta đã quan hệ với người Do Thái đủ lâu để biết rằng họ gọi loại áo này là abeyah.
“Hãy nhận lấy chiếc áo và một con lừa rồi khởi hành ngay từ sáng sớm đi Bethlehem, ngôi làng mà chúng ta đã đi qua trước khi đến đây. Chưa một người bán hàng nào của ta từng ghé qua nơi này. Họ báo với ta rằng ghé qua đó chỉ phí thời gian mà thôi, dân chúng ở đó quá nghèo. Ta đã từng bán được hàng trăm chiếc áo tương tự ở đó nhiều năm trước. Hãy ở lại Bethlehem cho đến khi con bán được chiếc áo dài đó.”
Hafid gật đầu, cố gắng che giấu sự kích động trong giọng nói: “Con sẽ bán nó với giá bao nhiêu, thưa ông?”
“Ta sẽ ghi tên con vào sổ với giá 1 đồng denarius bạc. Khi trở về con sẽ giao lại cho ta một đồng đó và giữ lại phần lời từ đó cho con, vì thế con hãy tự định giá cho chiếc áo dài. Con có thể ghé qua khu họp chợ ở cửa Nam thị trấn hay tự mình đến từng nhà tuỳ thích. Ta chắc với con là ở đó có hàng ngàn gia đình. Chắc chắn là có thể bán được một cái áo ở đó, con đồng ý chứ?”
Hafid gật đầu, tâm trí của cậu đã sẵn sàng cho ngày mai.
Ông Pathros đặt tay lên vai người tuổi trẻ: “Cho đến khi con quay lại, ta sẽ không chỉ định một ai thay vào vị trí của con hiện tại. Nếu con nhận ra rằng mình không thích hợp với nghề nghiệp, đừng nên chán nản. Đừng bao giờ xấu hổ vì thất bại vì những ai không bao giờ thất bại là những ai không bao giờ cố gắng. Khi con trở về ta sẽ hỏi con nhiều về những gì con đã trải qua. Và rồi sẽ quyết định phải làm những gì để biến giấc mơ của con thành sự thật.”
Hafid cúi chào và xoay mình bước đi, nhưng người đàn ông già ngăn lại. “Con trai ạ, có một điều về cách xử sự mà con phải ghi nhớ khi bắt đầu cuộc đời mới của con. Hãy luôn ghi nhớ nó trong lòng và con sẽ vượt qua được những trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua, những trở ngại mà chắc chắn là con sẽ phải đối mặt như một con người với khát vọng trong tim.”
“Vâng thưa ông”
“Thất bại không thể đánh gục được con nếu mong ước thành công của con đủ mạnh.”
Ông Pathros bước lại gần chàng trai trẻ: “Con có hiểu đầy đủ ý nghĩa của những lời ta nói chứ?”
“Có, thưa ông.”
“Vậy hãy nhắc lại lời ta nói.”
“Thất bại không thể đánh gục được một người có mong ước thành công đủ mạnh.”

Chương IV

Hafid đặt sang một bên miếng bánh mì đang ăn dở và suy nghĩ về số phận không may của mình. Ngày mai đã là ngày thứ tư anh ở Bethlehem và chiếc áo dài mầu đỏ thắm duy nhất mà anh mang theo khi rời khỏi thương đoàn vẫn còn đó, trong túi xách trên lưng con lừa có lẽ đang nhơi cỏ khô trong hang đá đằng sau quán trọ.
Ngồi nghe tiếng cười nói ồn ào ở chung quanh trong giờ ăn tối, Hafid bực bội nhìn vào bữa ăn dang dở của mình. Những nghi ngờ đã từng ám ảnh mọi người bán hàng từ xưa đến nay quấy đảo tâm trí anh.
“Tại sao người ta không muốn nghe câu chuyện của mình? Sao không một ai tỏ ra chú ý? Tại sao họ lại đóng sập cửa lại khi mình chưa kịp nói được lấy đủ một câu? Tại sao họ không hề quan tâm đến công việc của mình và vội vã bỏ đi? Có phải mọi người trong thị trấn này đều nghèo khổ? Ta phải nói gì những khi họ thích chiếc áo nhưng không đủ tiền để mua nó? Tại sao có nhiều người nói mình hãy trở lại vào một ngày khác? Tại sao những người khác bán được mà mình lại không thể? Nỗi sợ xiết chặt lấy mình khi đến gần một cánh cửa đóng kín là gì và làm sao để vượt qua nó? Có phải giá của mình đặt ra là quá cao?…”
Chàng trai trẻ lắc đầu chán nản vì sự thất bại của mình. Có thể đây không phải là cuộc đời dành cho anh. Có thể anh nên tiếp tục làm người chăn lạc đà để có được vài đồng kẽm sau một ngày lao động cực nhọc. Là một người bán hàng anh phải may mắn và trở về vớithương đoàn dù chỉ với một chút lợi nhuận trong tay. Ông chủ Pathros đã gọi anh là gì? Người chiến binh trẻ ư? Anh thoáng nghĩ đến việc sẽ trở lại với lũ lạc đà.
Và rồi ý nghĩ của anh quay lại với Lisha và ông bố già Calneh cáu kỉnh của cô, sự hồ nghi mau chóng rời khỏi tâm trí anh. Hafid quyết định, đêm nay anh sẽ ngủ lại trên đồi để tiết kiệm số tiền nhỏ nhoi của mình và sáng mai anh sẽ bán đi chiếc áo dài. Và còn hơn thế nữa, Hafid sẽ nói thật hay và lưu loát để bán được chiếc áo dài với giá thật cao. Anh sẽ bắt đầu thật sớm ngày mai, ngay khi mới bình minh, anh sẽ đến giếng nước của thị trấn. Anh sẽ mời mọc hết cả những người đi ngang qua đó và sẽ mau chóng trở về ngọn đồi của những cây Ô- liu với những đồng tiền bạc trong túi.
Hafid với lấy phần bánh mì còn lại của mình, anh lại nghĩ đến ông chủ của mình. Ông Pathros sẽ tự hào vì anh, anh sẽ không trở về trong thất bại và nản chí. Thực ra thì bốn ngày là quá dài để bán chỉ mỗi một cái áo nhưng một khi anh có thể hoàn tất việc này trong bốn ngày, anh biết anh sẽ có thể học từ ông Pathros cách làm sao để có thể bán chỉ trong ba ngày, rồi hai ngày. Với thời gian anh sẽ càng ngày càng lành nghề và sẽ có thể bán thật nhiều những chiếc áo dài tương tự trong từng giờ một. Và rồi anh sẽ thực sự trở thành là một người bán hàng đầy tự hào.
Anh rời khỏi quán trọ ồn ào đi về phía hang đá. Không khí giá buốt phủ lên lớp cỏ dưới chân Hafid một lớp áo băng mỏng, chúng như kêu rên, rạn vỡ dưới từng bước chân của Hafid. Anh quyết định không ra đồi ngủ tối nay, anh sẽ ngủ lại tại hang đá với con lừa của anh.
Anh biết và tin là ngày mai sẽ là một ngày tốt hơn và anh đã hiểu tại sao mọi người bán hàng khác đều từ bỏ cái ngôi làng nghèo khó này. Bọn họ đã cho là không một việc buôn bán nào có thể hoàn tất được ở đây và Hafid vẫn nhớ lại điều này mỗi khi có ai đó từ chối chiếc áo dài đỏ của anh. Anh tin rằng ông Pathros đã từng bán ở đây hàng trăm chiếc áo tương tự, nhiều năm trước. Nhưng có thể thời thế đã đổi thay, và hơn nữa ông Pathros là một người bán hàng vĩ đại nhất.
Chút ánh sáng lập loè từ hang đá chứa gia súc hắt ra khiến Hafid rảo bước, anh nghĩ có thể có kẻ trộm trong ấy. Anh nhanh chân ập vào với ý nghĩ là mình sẽ bắt được tên trộm và những gì hắn đánh cấp. Nhưng thay vì thế, sự căng thẳng trong anh bay biến khi nhìn thấy những gì đang hiện ra trước mắt.
Trong ánh sáng leo lét, mập mờ ẩn hiện một người đàn ông râu rìa và một phụ nữ trẻ quần áo phong phanh đang ôm lấy nhau để giữ ấm. Dưới chân họ, trong máng cỏ gia súc, một đứa bé ngủ yên trong đó. Qua nước da còn đỏ hỏn của đứa bé, Hafid tuy không rõ mấy nhưng vẫn biết là đứa bé mới vừa được sinh ra.
Đưá bé được quấn để ủ ấm bằng 2 cái áo choàng ngoài của cha mẹ nó.
Người đàn ông hất đầu về phía Hafid ra hiệu cho vợ, người đàn bà nhích đến gần đứa trẻ hơn. Họ lặng lẽ nhìn nhau. Người phụ nữ đang run bần bật vì lạnh, chị ta chỉ mặc có mỗi một chiếc áo dài mỏng manh –quá mỏng manh để bảo vệ chị ta trước cái lạnh giá buốt trong hang đá ẩm thấp này. Hafid nhìn đứa trẻ. Anh xúc động khi thấy cái miệng nhỏ nhắn của nó mở ra rồi ngậm lại như muốn nở một nụ cười, một cảm giác lạ lùng làm anh run rẩy. Không biết lý do gì Hafid lại nghĩ đến Lisha.
Người đàn bà lại run lên bần bật làm Hafid sựctỉnh khỏi những ý nghĩ về Lisha yêu quý của anh.
Sau một thoáng ngỡ ngàng không chủ định, người sẽ có thể trở thành một người bán hàng đó đi lại phía con lừa của anh. Anh cẩn thận gỡ những mối dây buộc lấy túi xách xuống, mở nó ra, lấy chiếc áo dài đỏ thắm của anh ra. Hafid mở cái áo dài ra, tay mân mê ve vuốt loại vải dệt bằng lông dê mềm mượt của nó. Màu đỏ như bừng sáng dưới ánh nến và Hafid có thể nhìn thấy nhãn hiệu của Tola và Pathros ở bên trong cổ áo. Vòng tròn trong hình vuông và ngôi sao nhỏ. Không biết bao nhiêu lần anh đã mang chiếc áo dài này trên đôi tay mỏi mệt trong 3 ngày qua? Tưởng chừng như anh đã nằm lòng từng thớ dệt, sợi may của nó. Đây quả thật là một chiếc áo tốt, chất lượng. Với sự gìn giữ, nó có thể tốt mãi cho cả một đời người.
Hafid nhắm mắt lại, thở dài rồi bước chầm chậm lại phía cái gia đình nhỏ bé đang ở trước mặt anh. Anh quỳ xuống bên đứa trẻ, chầm chậm gỡ bỏ chiếc áo choàng ngoài của người cha rồi đến cái của người mẹ. Hafid trao lại hai cái áo choàng cũ kỹ cho cha mẹ của đứa bé. Cả hai đều ngạc nhiên trước hành động của Hafid, họ đứng yên không phản ứng. Và rồi Hafid mở rộng chiếc áo dài đỏ của mình ra và quấn kỹ đứa bé đang ngủ vào trong.
Nụ hôn ẩm ướt của người mẹ trẻ vẫn còn cảm giác trên má Hafid khi anh dắt con lừa của mình rời khỏi hang đá. Trên đầu của Hafid, trên trời đêm là một ngôi sao sáng loé mà Hafid chưa từng được nhìn thấy trong quãng đời đã qua của mình. Anh mải mê ngắm nhìn ngôi sao cho đến khi mặt anh đầm đìa nước mắt, rồi Hafid và con lừa của mình ra đi trên con đường hướng về Jerusalem nơi có thương đoàn đang ngừng chân trên ngọn đồi của những cây Ô-liu.

Chương V

Hafid cưỡi lừa đi chầm chậm, đầu cúi xuống nên không nhận thấy ngôi sao sáng một cách lạ kỳ đó vẫn đang chiếu sáng con đường trước mặt anh. Tại sao anh lại hành động khờ dại như vậy? Anh không hề quen biết những người đã gặp trong cái hang đá đó. Tại sao không cố gằng bán cho họ cái áo dài đỏ đó? Anh sẽ phải nói gì với ông Pathros đây? Và còn những người khác nữa, họ sẽ cười lăn ra đất khi biết việc anh đã cho đi cái áo mà không nhận lại được một chút gì. Mà lại là cho một đứa bé xa lạ mới lọt lòng một cách nghèo hèn trong một hang đá. Anh suy nghĩ xem có cách nào đánh lừa được ông Pathros. Có thể là đã đánh mất nó trên lưng lừa khi ăn trưa? Ông Pathros có thể tin được những câu chuyện như vậy không? Dù sao thì cũng có rất nhiều người trộm cắp trên khắp dải đất này. Ông Pathros có thể nào tin và rồi không trách mắng mình vì không cẩn thận không?
Và rồi rất sớm, Hafid đã về đến trên con đường xuyên qua vườn Gethsemanie. Anh xuống lừa, mệt mỏi dắt nó lên đồi đến với thương đoàn. Ánh sáng từ ngôi sao làm không gian có vẻ như ban ngày và sự lo lắng mau chóng tràn ngập Hafid khi anh nhìn thấy ông Pathros đang đứng đó trước cửa lều, ngước nhìn lên màn trời đêm. Hafid ngừng lại, hầu như không cử động, nhưng ông Pathros lập tức nhận ra anh.
Có một chút ngỡ ngàng trong giọng nói khi ông Pathros đến gần anh và hỏi: “Con trở về thẳng đây từ Bethlehem ư?”
“Vâng, thưa ông chủ.”
“Con không cảm thấy gì khi nhìn thấy ngôi sao đó đi theo con sao?”
“Không thưa ông, con không biết.”
“Con không nhận thấy ư. Ta đã không thể rời mắt khỏi ngôi sao đó khi nó mọc lên từ phía Bethlehem cách đây hai giờ. Chưa bao giờ ta nhìn thấy một ngôi sao rực rỡ đến như thế. Và rồi ta đã nhận ra nó ở ngay đây, ngay trên đầu chúng ta. Rồi con xuất hiện, chúa ơi!… và ngôi sao cũng dừng lại…”
Ông Pathros lại gần Hafid, chăm chú nhìn anh thật gần rồi hỏi: “Con có liên quan đến một sự kiện lạ lùng nào đó ở Bethlehem không?”
“Không, thưa ông.”
Người đàn ông chau mày suy nghĩ: “Ta chưa bao giờ trải qua một đêm với những sự kiện lạ lùng như đêm nay.”
Hafid bật nói: “Con cũng không thể nào quên được đêm nay, thưa ông.”
“À, à, quả là đã có việc xảy ra trong đêm nay. Tại sao con lại trở về vào lúc đã trễ tràng như vậy?”
Hafid im lặng trong khi người đàn ông già xem qua túi hành lý của anh trên lưng lừa. “Đã không còn nữa, cuối cùng thì con cũng đã thành công. Hãy vào đây và kể cho ta nghe về những gì con đã trải nghiệm. Ta không thể hiểu được vì sao một ngôi sao lại đi theo một cậu trai chăn lạc đà như con.”
Ông Pathros ngả lưng nằm nghe chăm chú câu chuyện dài của chàng trai trẻ về những lời từ chối thậm chí sỉ nhục không ngừng mà cậu đã phải nhận lãnh ở Bethlehem. Ông gục gặc đầu khi nghe Hafid kể về người lái buôn hung hăng, người gần như quẳng cậu trai ra khỏi tiệm hàng của mình và mỉm cười khi nghe đến đoạn hai người lính đã vứt lại chiếc áo vào mặt Hafid khi anh từ chối bớt giá bán.
Cuối cùng giọng Hafid hầu như khản đặc và lập bập khó nghe khi cậu kể lại tất cả những do dự, hồ nghi đã khuấy đảo tâm trí cậu trong quán rượu tối hôm nay. Ông Pathros ngắt lời chàng trai: “Hafid, hãy nhớ lại rõ ràng những hồ nghi mà con đã suy nghĩ khi ngồi một mình buồn bã đó.”
Khi Hafid kể lại rõ ràng những ý nghĩ của anh khi đang ăn tối trong quán rượu, người đàn ông già tiếp tục gạn hỏi: “Bây giờ hãy nói rõ xem, điều gì đã khiến con vứt bỏ mọi nghi ngờ và đem đến cho con lòng can đảm để quyết định tiếp tục cố gắng bán đi chiếc áo dài đó?”
Hafid suy nghĩ trước khi đáp lại ông Pathros. “Con chỉ nghĩ đến cô con gái của Calneh. Khi ở trong cái quán rượu tồi tệ đó con đã nghĩ con sẽ không thể gặp lại Lisha nếu con thất bại.” Đến đây giọng Hafid như vỡ ra: “Dù sao thì con cũng đã đánh mất Lisha rồi!”
“Con đã thất bại ư, ta không hiểu. Chiếc áo đã không còn nữa?”
Hafid nói nhỏ khiến ông Pathros phải nghiêng người đến trước để lắng nghe, câu chuyện đã xảy ra nơi hang đá, đứa bé và chiếc áo dài. Ông Pathros chốc chốc lại liếc nhìn qua cửa lều nơi ánh sáng của ngôi sao vẫn đang chiếu sáng cả khu trại. Nụ cười lại nở ra trên khuôn mặt đầy ngỡ ngàng của ông Pathros và ông nhận ra là Hafid đã ngừng kể, cậu trai đang sụt sùi nước mắt.
Tiếng nức nở chóng tàn và chỉ còn lại sự im lặng trong căn lều. Hafid không dám ngẩng lên nhìn chủ nhân của mình. Anh đã thất bại và tự chứng tỏ rằng mình không đáng gì hơn ngoài một tên chăn lạc đà. Anh muốn bật dậy và chạy ra khỏi căn lều. Nhưng rồi Hafid cảm thấy đôi tay của ông Pathros trên vai mình, đôi tay đó ngửng mặt anh lên để anh nhìn thẳng vào mắt của ông Pathros.
“Con trai ơi, chuyến đi này đã không mang lại chút lợi nhuận nào cho con.”
“Vâng, thưa ông.”
“Nhưng với ta thì có đấy. Ngôi sao đi theo con đã giúp ta thoát khỏi sự đui mù mà ta ương ngạnh không chịu nhận biết từ bao lâu nay. Ta sẽ giải thích việc này với con khi chúng ta trở về Palmyra. Bây giờ ta chỉ có một yêu cầu với con thôi.”
“Vâng, thưa ông.”
“Những người bán hàng của ta sẽ trở về với thương đoàn và chiều mai những con lạc đà mệt mỏi của họ cần có người chăm sóc. Con có vui lòng trở lại với nhiệm vụ của một người chăn lạc đà lúc này không?”
Hafid đứng dậy vòng tay trước chủ nhân của mình, ân nhân của mình: “Con sẽ làm bất cứ gì mà ông yêu cầu… con xin lỗi vì đã làm ông thất vọng.”
“Hãy đi sửa soạn cho sự trở về của những người của ta và chúng ta sẽ gặp lại nhau ở Palmyra.”
Hafid ra khỏi lều, anh bị choá mắt phần nào vì ánh sáng từ trên cao. Anh dụi mắt và nghe ông Pathros gọi mình từ trong lều. Anh quay lại chờ nghe ông Pathros nói.
Pathros đứng đó, ngước nhìn ngôi sao rồi nói: “Hãy ngủ yên vì con không hề thất bại.”
Ngôi sao sáng rỡ vẫn ở yên trên bầu trời suốt đêm đó. Ánh sáng rực rỡ như Tình Yêu, như đời sống, vẫn luôn còn đó trong ngần và sáng rỡ.

Chương VI

Gần hai tuần sau khi thương đoàn trở về trụ sở chính ở Palmyra, Hafid thức dậy trên cái đệm rơm của mình trong chuồng gia súc và quyết định sẽ đến gặp mặt với chủ nhân của mình, ông Pathros.
Anh bồn chồn đứng chờ bên giường của ông Pathros cho đến khi ông chủ của anh thức dậy. Ông Pathros vật vã với đống chăn đệm và cuối cùng ngồi lên. Gương mặt của ông già đầy mệt mỏi và đôi tay đầy gân ngang dọc. Thật khó cho Hafid nhận ra được đây là người đàn ông mạnh mẽ đã nói chuyện với anh hai tuần trước.
Ông Pathros khó khăn lần về phía cuối giường nơi chàng trai trẻ đang chờ. Ngồi bên dưới, Hafid kiên nhẫn đợi chủ nhân của mình mở lời. Ngay cả giọng nói của ông Pathros cũng khác hẳn so với trước đây hai tuần.
“Con trai của ta, con đã có thời gian đủ để suy nghĩ về tham vọng của mình. Con vẫn còn muốn trở thành một người bán hàng vĩ đại chứ?”
“Vâng, con vẫn muốn, thưa ông.”
Ông già gật đầu: “Vậy hãy cứ thế. Ta đã muốn nói chuyện nhiều với con nhưng con thấy đó còn nhiều việc khác cho ta. Mặc dù ta vẫn cho mình là một người bán hàng vĩ đại nhất nhưng ta vẫn không thể nào bán được cái chết ra khỏi cửa của ta.Thần chết đã đợi ở đâybiết rằng cửa phòng của ta không có người canh gác…”
Cơn ho cắt ngang lời ông Pathros và Hafid vẫn im lặng ngồi đó trong khi người đàn ông già lấy lại hơi thở. Cuối cùng cơn ho cũng dứt và ông Pathros mỉm cười yếu ớt: “Thời gian của ta còn lại rất ngắn ngủi, vậy hãy bắt đầu đi. Trước hết, con hãy lấy chiếc rương gỗ ở dưới gầm giường ra cho ta.”
Hafid quỳ xuống lôi ra một cái rương gỗ nhỏ được buộc đai cẩn thận, anh đặt chiếc rương trước mặt Pathros. Người đàn ông già hắng giọng: “Nhiều năm trước khi ta cũng không là gì hơn một cậu bé chăn lạc đà như con, ta đã cứu được một du khách phương Đông thoát khỏi tay của hai tên cướp. Ông hàm ơn và mong muốn được tưởng thưởng ta vì đã cứu mạng dù ta không hề yêu cầu hay mong muốn. Và vì ta không có gia đình cũng như tài sản nên ông mang ta về nhà và nhận ta làm người của ông.
Một ngày kia, khi ta đã quen với cuộc sống mới, ông cho ta xem chiếc rương gỗ này. Bên trong có 10 cuộn da được đánh số theo thứ tự. Cuộn thứ nhất chứa đựng những bí mật để học tập. Những cuộn khác chứa đựng những nguyên tắc và luật lệ để đạt được thành công trong nghề bán hàng. Năm sau đó, ta được dạy dỗ hằng ngày với những lời lẽ khôn ngoan trong các cuộn da và bí mật về học tập trong cuộn da thứ nhất. Ta hầu như thuộc nằm lòng từng chữ một cho đến khi chúng trở thành một phần trong suy nghĩ và đời sống của ta. Chúng trở thành thói quen của ta.
Cuộn da này, một phong thư niêm kín và một túi tiền với năm mươi đồng vàng. Bức thư chỉ được mở khi ta không còn nhìn thấy ngôi nhà đã cưu mang ta nữa. Ta ra đi và cho đến khi đã ở trên con đường dẫn đến Palmyra, ta mở bức thư ra. Bức thư yêu cầu ta hãy dùng năm mươi đồng tiền vàng đó và áp dụng những gì đã học được từ những cuộn da để bắt đầu một cuộc sống mới. Bức thư cũng đòi hỏi ta phải chia sẻ phân nửa những gì ta làm ra được cho những ai kém may mắn hơn. Những cuộn da thì không được phép chia sẻ với bất cứ ai cho đến một ngày, ta sẽ nhận biết một dấu hiệu chỉ cho ta ai là người được chọn để kế thừa những cuộn da này.”
Hafid lúc lắc đầu: “Con không hiểu rõ mấy, thưa ông.”
“Ta sẽ giải thích. Ta vẫn để tâm tìm kiếm con người với cái dấu hiệu để nhận biết đó từ bao năm qua và trong khi chờ đợi, ta áp dụng những gì học được từ những cuộn da mà thu thập được gia sản khổng lồ ngày nay. Ta đã gần như cho rằng không hề có một người với dấu hiệu báo trước như vậy cho đến khi con trở về sau chuyến đi Bethlehem. Ta nhận ra con chính là người được chọn để nhận lấy những cuộn da này khi con xuất hiện với ngôi sao sáng rực đó trên đầu, ngôi sao đã theo cùng con đến từ Bethlehem. Trong thâm tâm ta đã cố gắng để hiểu được ý nghĩa của sự kiện này và cuối cùng ta đã thôi không còn muốn thử thách những hành động của Đấng Tối cao nữa. Khi con cho ta biết đã cho đi cái áo, một cái có ý nghĩa quá to lớn đối với con. Một cái gì đó đã rung lên trong lòng ta và ta hiểu cuộc tìm kiếm lâu dài của ta nay đã kết thúc. Ta đã tìm thấy người được chỉ định để nhận lấy những cuộn da này. Thật lạ lùng, khi ta biết ta đã tìm được người kế thừa đúng đắn cho những gì mà ta đã được thừa hưởng thì sinh lực của ta cũng bắt đầu dần dần cạn kiệt. Nayta gần đến đích và cuộc tìm kiếm dài ngày của ta đã hết, ta có thể ra đi với bình an.”
Tiếng nói của ông già gần như không còn nghe được nữa, ông cố gắng chồm lại gần hơn với Hafid: “Hãy nghe kỹ, con trai ơi, ta sẽ không còn đủ sức để lập lại…”
Đôi mắt Hafid ướt đẫm khi anh đến gần hơn với người chủ thân yêu của mình. Anh chạm vào người ông già, ông Pathros cố gắng hít vào: “Bây giờ ta trao lại con những cuộn da này, nhưng có một vài điều kiện con buộc phải tuân thủ. Ở đây có một túi tiền với 100 đồng vàng. Tiền này để con sống và có thể mua một ít hàng hoá để bắt đầu cuộc kinh doanh của riêng con. Ta có thể cho con thật nhiều tiền, nhưng điều này có thể sẽ hại con. Dù sao thì những thứ mà con nhận hôm nay đã là quá đủ để con trở thành một người bán hàng vĩ đại và giàu có nhất thế giới này. Con thấy đó, ta không hề quên điều mơ ước của con.
“Hãy rời khỏi nơi này và đi tới Damascus. Ở đó con sẽ có vô số cơ hội để áp dụng những gì học được từ những cuộn da này. Khi con đã ở yên đâu đó, hãy mở cuộn da thứ nhất ra. Con hãy đọc đi, đọc lại nó cho đến khi hiểu thấu những bí mật để học tập các nguyên tắc và luật lệ ở những cuộn da tiếp theo. Khi con bắt đầu học tập từng cuốn tiếp theo một, con cũng có thể bắt đầu việc buôn bán của mình. Nếu con kết hợp được những gì con học với những kinh nghiệm mà con thu thập được và vẫn tiếp tục học tập theo những điều chỉ dẫn từ các cuộn da này, việc buôn bán của con sẽ lớn dần lên theo từng ngày. Con phải tuân thủ một số điều kiện trước khi được nhận lấy những thứ này. Điều kiện đầu tiên của ta là con phải thề rằng sẽ tuân theo những hướng dẫn được ghi trong cuộn da số một. Con bằng lòng chứ?”
“Vâng, thưa ông.”
“Tốt, tốt… một khi con áp dụng những nguyên tắc trong những cuộn da này có sẽ có thể giầu đến mức mà con chưa bao giờ mơ thấy. Điều kiện thứ hai của ta là con phải bỏ ra một nửa số lợi nhuận mà con kiếm được để phân phát cho những ai kém may mắn hơn con. Không có sự gia giảm nào cho điều kiện này. Con đồng ý chứ?”
“Vâng, thưa ông.”
“Và bây giờ là điều kiện quan trọng nhất. Con bị cấm không được chia sẻ những kinh nghiệm học được từ những cuộn da này hay những gì chứa đựng trong đó với bất cứ ai. Một ngày kia sẽ xuất hiện một người với những dấu hiệu lạ thường tương tự như ngôi sao dẫn lối và hành động rộng mở đầy tình yêu của con, những dấu hiệu mà ta đã để tâm tìm kiếm. Khi điều đó xảy ra, con sẽ nhận ra những dấu hiệu này, dù con người đó cũng không hề biết rằng mình là người được chọn. Khi con tim của con mách bảo rằng con đã đúng, hãy chuyển giao chiếc rương và những cuộn da này cho người đó –bất kể người đó là đàn ông hay đàn bà –một cách vô điều kiện, chứ không phải như ta và con đã phải tuân theo. Bức thư ngày xưa mà ta đã nhận được nói rõ rằng người thứ ba nhận được những cuộn da này có thể chia sẻ những thông điệp của nó cho toàn thế giới nếu anh, hay chị ta muốn. Con có hứa là sẽ tuân theo điều này không?”
“Con sẽ tuân theo, thưa ông.”
Ông Pathros thở ra một hơi dài nhẹ nhõm cứ như là vừa trút khỏi vai một gánh rất nặng. Ông mỉm cười yếu ớt và ôm lấy mặt Hafid, nói khẽ, “hãy nhận lấy và ra đi. Ta sẽ không bao giờ còn thấy lại con nữa. Hãy ra đi với tình yêu và lời chúc tụng của ta cho sự thành công và mong rằng Lisha của con sẽ cùng chia sẻ mọi hạnh phúc mà tương lai sẽ đem lại cho con.”
Những giọt nước mắt thành tâm tuôn trào hai bên má Hafid khi anh nhận lấy chiếc rương gỗ và đi ra khỏi phòng ngủ của người chủ thân yêu. Anh ngừng lại bên ngoài cánh cửa, xoay người lại nói với ông chủ của mình: “Có phải thất bại sẽ không thể đánh gục được con khi sự quyết tâm đạt đến thành công của con đủ mạnh?”
Người đàn ông già chậm chạp gật đầu. Ông giơ tay lên chào vĩnh biệt chàng trai trẻ
. Nhiệm vụ của ông nơi trần thế này đã hoàn tất, ông sẽ ra đi nhưng tình yêu mà ông luôn tin tưởng sẽ vẫn còn đó mãi với trần gian.

Chương VII

Hafid cùng với con lừa của mình đi vào thành Damacus qua cổng thành phía đông. Anh cưỡi lừa dọc theo con đường chính của thành phố trong hồ nghi và lo lắng, tiếng ồn ào và í ới từ hàng trăm người bán hàng ở chung quanh không làm dịu đi được nỗi lo sợ trong lòng Hafid. Đi vào một thành phố lớn trong một thương đoàn lớn như thương đoàn của ông Pathros là một việc, mà đi một mình cô độc lại là một việc khác. Những người bán hàng rong ập đến từ mọi hướng, người nào người nấy với hàng trên tay, tất cả đều cố sức rao hàng lớn hơn những người khác. Hafid đi qua những gian hàng nhỏ như chiếc hộp cho đến những cửa hàng to lớn trưng bày hàng thủ công bằng đay, bạc, sợi, gỗ v.v… Và mỗi một bước chân, con lừa của anh lại đưa anh đối diện những con người với dáng vẻ nghèo khổ, tay dang rộng mời chào như xin xỏ tình thương.
Trước mặt Hafid, bên kia tường thành phía tây, ngọn núi Hermon vươn cao sừng sững. Dù đang giữa mùa hè nhưng ngọn Hermon vẫn phủ đầy tuyết trắng, ngọn núi như đang ném xuống khu chợ ồn ào một cái nhìn nghiêm khắc, chịu đựng. Hafid rời khỏi con đường náo nhiệt để tìm một nơi trú chân và không mấy khó khăn, anh tìm được một quán trọ tên gọi Moscha. Anh trả trước một tháng tiền trọ cho một căn phòng nhỏ, sạch sẽ. Anh cho lừa vào chuồng ở phía sau rồi ra tắm ở giòng sông Barada gần đó trước khi trở về phòng.
Hafid đặt chiếc rương xuống chân giường và bắt đầu tháo những da ràng quanh, nắp rương mở ra dễ dàng và Hafid lặng nhìn những cuộn da bí mật của mình. Anh đưa tay ra chạm nhẹ vào những cuộn da một cách kính cẩn. Ở dưới bàn tay của Hafid chúng dường như sống động, anh rụt tay lại. Hafid đứng dậy đi lại phía cửa sổ mở ra đường, từ xa hơn nữa dặm đường, tiếng huyên náo từ khu chợ ồn ào vọng đến. Sợ hãi và nghi ngờ lại trở lại khi Hafid hướng nhìn về phía vọng lại tiếng ồn ào và anh cảm giác như niềm tin của mình đang lay động. Hafid nhắm mắt lại, tựa đầu vào tường nói lên thành tiếng: “Ôi điên khùng làm sao khi ta dám mơ rằng ta, một tên chăn lạc đà, lại có thể một ngày kia trở thành người bán hàng vĩ đại nhất thế giới khi mà ta không đủ can đảm để ngay cả đi qua đám chợ dưới kia. Ngày hôm nay mắt của ta mới thực sự chứng kiến hàng trăm người bán hàng, được trang bị về nghề nghiệp tốt hơn ta. Mọi người có vẻ như được trang bị sẵn sàng cho khu rừng rậm rạp dưới kia. Thật là khờ dại khi nghĩ rằng ta có thể cạnh tranh và vượt qua bọn họ. Ôi ông Pathros, ông chủ Pathros của tôi, tôi sợ là sẽ làm ông thất vọng mất thôi.”
Anh nằm lăn ra giường, mệt mỏi vì chuyến hành trình, anh bật khóc cho đến khi ngủ thiếp.
Khi Hafid tỉnh dậy, trời đã sáng. Trước khi kịp mở mắt ra anh đã nghe thấy tiếng chim. Anh ngồi dậy và ngạc nhiên khi thấy một con chim sẻ đang đậu trên nắp rương đựng các cuộn da, nắp rương vẫn mở. Anh ra cửa sổ, ngoài kia hàng ngàn con chim sẻ đang hót ríu rít trên những cành sung dâu, cành vã, chúng đang vui mừng đón chào một ngày mới. Trong lúc đứng nhìn, một vài con bay đến nơi cửa sổ nhưng rồi lập tức lại bay đi. Hafid quay lại nhìn vị khách không mời lông vũ của mình. Con chim nhỏ gục gặc đầu nhìn anh như đáp trả.
Hafid tiến chầm chậm lại bên chiếc rương, đưa tay ra. Con chim bay lên đậu vào lòng bàn tay anh. “Hàng ngàn đồng loại của mày ở ngoài kia và chỉ có mình chú mày là có đủ can đảm để vào đây.”
Con chim mổ mổ vào lòng bàn tay của Hafid và anh đem con chim lại nơi có túi xách đựng bánh mì và bơ của mình. Hafid bẻ vụn một mẩu bánh mì và rải ra bàn cho con chim, nó mổ lấy những vụn bánh.
Một ý nghĩ chợt đến với Hafid, anh trở lại bên cửa sổ sờ vào tấm lưới che. Chúng quá nhỏ và khít khao, không một con chim sẻ nào có thể chui qua lọt. Và rồi Hafid chợt nhớ lại giọng nói của ông Pathros và lập lại lớn tiếng: “Thất bại không thể đánh gục được con nếu mong ước thành công của con đủ mạnh.”
Anh trở lại bên chiếc rương, thò tay vào trong lấy ra cuộn da thứ nhất, anh giở cuộn da ra. Nỗi sợ hãi trong anh biến mất. Hafid quay lại nhìn con chim. Nó cũng đã bay đi. Chỉ còn lại những vụn bánh mì như là bằng chứng cho việc từng hiện diện của vị khách không mời, con chim nhỏ can trường. Hafid quay lại với cuộn da, anh đọc dòng đầu tiên: “Cuộn thứ nhất.” Và rồi anh bắt đầu đọc…

Advertisements